Thứ Hai, ngày 26 tháng 7 năm 2010

Quyền con người ( Phần I )

Kichbu copy and post 26 tháng bảy 2010

Quyền con người

Hưởng ứng bài viết của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng - "Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam" - để rộng đường dư luận, tôi xin dịch tiểu luận có nhan đề "Quyền con người" (Man’s Rights) của Ayn Rand. Quan điểm của Ayn Rand không nhất thiết trùng quan điểm của tướng Hưởng.

Bản dịch chắc chắn không tránh khỏi nhiều sai sót, rất mong được các bạn góp ý, sửa chữa. Xin cảm ơn.

Bài liên quan:

> Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam!

http://kichbu.multiply.com/journal/item/883

> Văn hóa tranh luận và vấn đề ngụy biện

http://zuncon.multiply.com/links/item/27/27



**********

QUYỀN CON NGƯỜI

- Ayn Rand -

Ai muốn cổ súy cho xã hội tự do – tức chủ nghĩa tư bản – người ấy phải biết rằng nền tảng không thể tách rời của xã hội tự do là nguyên tắc về các quyền cá nhân. Ai muốn cổ vũ cho các quyền cá nhân, người ấy phải biết rằng chủ nghĩa tư bản là hệ thống duy nhất có thể duy trì và bảo vệ các quyền đó. Và nếu ai đó muốn đo lường mối quan hệ giữa tự do với các mục tiêu của trí thức ngày nay, người ấy có thể dựa vào một thực tế là khái niệm quyền cá nhân đang bị xói mòn, bóp méo, xuyên tạc và hiếm khi được đưa ra thảo luận, đặc biệt hiếm được thảo luận bởi lực lượng gọi là “những người bảo thủ”.

“Quyền” là một khái niệm đạo đức; là khái niệm tạo sự dịch chuyển logic từ các nguyên tắc hướng dẫn hành động của cá nhân tới các nguyên tắc hướng dẫn quan hệ của anh ta với những người khác; là khái niệm duy trì và bảo vệ đạo đức cá nhân trong xã hội; là mối liên kết giữa quy tắc đạo đức của một cá nhân và quy tắc pháp lý của một xã hội, mối liên kết giữa đạo đức và chính trị. Quyền cá nhân là phương tiện để đặt xã hội xuống dưới luật đạo đức.

Mọi hệ thống chính trị đều dựa trên một số quy tắc về đạo đức. Đạo đức học thống trị trong lịch sử nhân loại là các biến thế của học thuyết tập thể-vị tha, thứ học thuyết đặt cá nhân thấp hơn các thế lực thần bí hoặc xã hội. Hậu quả là phần lớn các hệ thống chính trị đều là những biến thể của cùng một dạng chuyên chế nhà nước, chỉ khác nhau ở mức độ chứ không phải ở nguyên tắc cơ bản, chỉ bị giới hạn một cách tình cờ bởi truyền thống, hỗn loạn, xung đột đẫm máu và các cuộc sụp đổ có tính chất chu kỳ. Trong tất cả những chế độ như thế, đạo đức là một thứ quy tắc áp dụng cho cá nhân chứ không phải cho xã hội. Xã hội được đặt bên ngoài luật đạo đức, cùng với những biểu hiện hay nguồn gốc của luật đạo đức ấy, hay những người độc quyền diễn giải nó; và sự rao giảng về hành động xả thân cống hiến cho trách nhiệm xã hội được coi như mục đích chính của đạo đức học trong sự tồn tại thế tục của con người.

Vì không tồn tại thực thể nào gọi là “xã hội”, vì xã hội chỉ là một số các cá nhân riêng lẻ, nên điều này có nghĩa là, trong thực tế, những kẻ cai trị xã hội được miễn trừ khỏi luật đạo đức. Chỉ trừ việc phải tuân thủ các nghi thức truyền thống, còn lại, họ nắm quyền lực tuyệt đối và áp đặt lên xã hội sự tuân lệnh mù quáng, dựa trên nguyên tắc tuyệt đối là: “Cái tốt là cái gì tốt cho xã hội (hay cho bộ lạc, chủng tộc, quốc gia), và các sắc lệnh của nhà cầm quyền là tiếng nói của cái tốt trên đời”.

Điều này đúng với mọi chế độ toàn trị, đúng với mọi biến thể của đạo đức học theo chủ nghĩa tập thể-vị tha, thần bí hay xã hội. “The Divine Rights of Kings” (Quyền Thần Thánh Của Các Vị Vua) tóm tắt luận thuyết chính trị áp dụng cho các chế độ toàn trị thần quyền; còn “Vox populi, vox dei” (Ý Dân Là Ý Trời) tóm tắt luận thuyết áp dụng cho các nhà nước toàn trị. Một số bằng chứng: chế độ thần quyền ở Ai Cập, với các Pharaoh được coi như hiện thân của Chúa Trời; ách cai trị không giới hạn của đa số hay nền dân chủ của Athens; nhà nước phúc lợi của các hoàng đế La Mã; Tòa án Dị giáo thời Trung cổ; chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp; nhà nước phúc lợi của Bismarck ở Phổ; những căn phòng hơi độc của Đức Quốc xã; những lò sát sinh ở Liên Xô.

Tất cả những chế độ chính trị này đều là biểu hiện của đạo đức tập thể-vị tha. Đặc điểm chung của chúng là xã hội đứng bên trên luật đạo đức, như một thầy tế tùy tiện, toàn quyền, tối cao. Do đó, về mặt chính trị, tất cả các chế độ này đều là biến thể của một xã hội phi đạo đức.

Thành tựu cách mạng nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là việc đặt xã hội xuống thấp hơn luật đạo đức.

Nguyên tắc về các quyền cá nhân của con người thể hiện sự vươn rộng của đạo đức sang hệ thống xã hội – như một sự giới hạn đối với quyền lực của nhà nước, bảo vệ con người trước sức mạnh tàn bạo của cái tập thể, đặt lẽ phải lên trên quyền lực. Mỹ là xã hội đạo đức đầu tiên trong lịch sử.

Tất cả các chế độ trước đó đều coi con người như phương tiện hiến dâng cho mục đích của những người khác, và coi xã hội là mục đích của chính nó. Nước Mỹ thì coi mỗi con người là mục đích của chính mình, còn xã hội như phương tiện để đi đến một sự đồng tồn tại hòa bình, có trật tự, tự nguyện giữa các cá nhân. Tất cả các chế độ trước đó đều cho rằng đời sống của cá nhân thuộc về xã hội, xã hội có thể loại bỏ cá nhân theo bất kỳ cách nào nó muốn; tự do mà cá nhân được hưởng chỉ là nhờ sự ban ơn, sự cho phép của xã hội, và tự do ấy có thể bị rút lại bất cứ lúc nào. Mỹ cho rằng đời sống của mỗi con người thuộc về chính cá nhân đó, do quyền của cá nhân đó mang lại (nghĩa là: do nguyên tắc đạo đức và do chính bản chất con người của cá nhân mang lại), rằng quyền là tài sản thuộc sở hữu của mỗi cá nhân, xã hội do đó không có quyền gì, và mục đích đạo đức duy nhất của nhà nước là bảo vệ các quyền cá nhân.

“Quyền” là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xã hội nhất định. Chỉ có một quyền cơ bản mà thôi (tất cả các quyền khác là kết quả hoặc hệ quả tất yếu của quyền cơ bản này): quyền của con người đối với đời sống cá nhân. Đời sống là một quá trình hành động tự duy trì và tự sinh sôi; quyền đối với đời sống tức là quyền hành động tự duy trì và tự sinh sôi – có nghĩa là: tự do tiến hành tất cả các hành động mà tự nhiên đòi hỏi từ một thực thể có lý trí, để hỗ trợ, thúc đẩy, hoàn thành và hưởng thụ đời sống riêng của mình. (Đó là ý nghĩa của quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc).

Khái niệm “quyền” chỉ liên quan đến hành động – mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi/từ những người khác.

Do đó, đối với mỗi cá nhân, quyền là sự thừa nhận về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực – được tự do hành động theo lý trí, vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép. Về phần những người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt nghĩa vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết: họ không được vi phạm các quyền của cá nhân đó.

Quyền sống là nguồn của mọi quyền, và quyền sở hữu là cách duy nhất để thi hành các quyền. Không có quyền sở hữu, tất cả các quyền khác là bất khả thi. Bởi vì con người phải tự mình duy trì đời sống của mình, cho nên người nào không có quyền đối với sản phẩm do nỗ lực cá nhân tạo ra thì sẽ không có cách nào sống được. Người nào sản xuất và bị những kẻ khác chiếm đoạt sản phẩm, thì ắt là nô lệ.

Hãy nhớ rằng giống như tất cả các quyền khác, quyền sở hữu là quyền hành động: nó không phải là quyền đối với một vật (khách thể), mà là quyền đối với hành động và các kết quả của hành động sản xuất hay phát hiện ra vật đó. Nó không đảm bảo con người sẽ tìm ra cái gì đó, mà chỉ là sự đảm bảo rằng nếu ai đó phát hiện một vật thì anh ta sẽ sở hữu nó. Đó là quyền nhận được, giữ lấy, sử dụng và định đoạt giá trị vật chất của tài sản.

Khái niệm quyền cá nhân còn mới mẻ trong lịch sử nhân loại đến nỗi, cho tới ngày nay, nhiều người vẫn không nắm bắt được nó một cách đầy đủ. Theo hai luận thuyết về đạo đức học - thần bí và xã hội - một số người khẳng định quyền là tặng phẩm của Chúa Trời, những người kia thì cho rằng quyền là tặng phẩm của xã hội. Nhưng, trong thực tế, nguồn gốc của quyền là bản chất con người.

Tuyên ngôn Độc lập (của nước Mỹ – ND) tuyên bố rằng con người “được Tạo hóa ban cho những quyền không thể xâm phạm”. Cho dù người ta coi con người là sản phẩm của Tạo hóa hay ra đời một cách tự nhiên, vấn đề nguồn gốc nhân loại cũng không làm thay đổi sự thật rằng con người là thực thể thuộc một loài đặc biệt – thực thể có lý trí – con người không thể hành động hiệu quả dưới sự cưỡng ép, quyền là điều kiện cần cho sự tồn tại đặc biệt của con người.

Nguồn gốc của quyền con người không phải là luật thần thánh hay luật quốc hội ban hành, mà là luật đồng nhất. A là A, và Con Người là Con Người. Quyền là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để có thể tồn tại một cách thích đáng. Ngay khi xuất hiện trên trái đất, mỗi cá nhân đều có quyền sử dụng trí tuệ của mình, làm việc vì các giá trị của mình và giữ lấy sản phẩm do mình tạo ra. Nếu cuộc sống trên trái đất là mục đích thì con người có quyền sống như một thực thể có lý trí: tự nhiên không cho phép con người phi lý trí”. (trích trong tác phẩm Atlas Shrugged - Ayn Rand)

Vi phạm quyền con người nghĩa là bắt buộc con người phải hành động ngược với lý trí, hay cướp đoạt các giá trị của con người. Về cơ bản, chỉ có một cách để làm việc đó: sử dụng vũ lực. Có hai đối tượng tiềm tàng khả năng vi phạm quyền con người: tội phạm và chính quyền. Thành tựu vĩ đại của nước Mỹ là vạch ra được sự phân biệt giữa hai đối tượng này – bằng cách cấm mỗi đối tượng thực hiện những hoạt động được thừa nhận là hợp pháp của đối tượng kia.

Tuyên ngôn Độc lập đặt ra nguyên tắc rằng “để bảo đảm những quyền này, chính quyền được lập ra trong nhân dân”. Đó là lời biện minh duy nhất có giá trị cho chính quyền, và nó định ra mục đích duy nhất của chính quyền: bảo vệ quyền con người, bằng cách bảo vệ con người trước bạo lực thể chất.

Do đó, chức năng của nhà nước được thay đổi từ vai trò của kẻ cai trị thành kẻ phục vụ. Nhà nước phải bảo vệ người dân khỏi tội phạm – và Hiến pháp được soạn thảo là để bảo vệ người dân trước nhà nước. Tuyên ngôn Nhân quyền (của Mỹ – ND) không nhằm chống lại các công dân, mà chống lại chính quyền – như một lời tuyên bố dứt khoát rằng các quyền cá nhân thay thế cho bất kỳ thế lực cộng đồng hay xã hội nào.

Kết quả là dạng thức một xã hội văn minh mà nước Mỹ đã gần đạt tới - trong cái dải ngắn ngủi khoảng 150 năm. Một xã hội văn minh là xã hội trong đó bạo lực bị nghiêm cấm trong các quan hệ giữa người với người; chính quyền, đóng vai trò như cảnh sát, chỉ được phép sử dụng vũ lực để thực thi biện pháp trả đũa chỉ nhằm đáp lại những người đã ra tay sử dụng bạo lực trước.

Điều này là ý nghĩa và mục đích căn bản của triết học chính trị Mỹ, ẩn chứa trong cái nguyên tắc về các quyền cá nhân. Nhưng nó không được hình thành một cách rõ ràng, cũng không được chấp nhận hoàn toàn hay thực thi một cách nhất quán.

Mâu thuẫn nội tại của nước Mỹ là đạo đức học vị tha-tập thể. Chủ nghĩa vị tha không đi cùng với tự do, chủ nghĩa tư bản và các quyền cá nhân được. Người ta không thể mưu cầu hạnh phúc với tâm lý của một con vật bị tế thần.

Chính là khái niệm quyền cá nhân đã sản sinh ra xã hội tự do. Chính từ sự tiêu diệt các quyền cá nhân mà tự do bắt đầu bị hủy hoại.

Một nền chuyên chế tập thể vốn dĩ không dám nô dịch hóa bằng cách thẳng thừng tước đoạt các giá trị vật chất hay đạo đức của quốc gia. Điều này phải được thực hiện thông qua một quá trình mục ruỗng từ bên trong. Cũng giống như trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hành động cướp bóc tài sản một đất nước được thực hiện bằng cách tạo lạm phát tiền tệ; thế là ngày nay người ta có thể chứng kiến lạm phát được áp dụng khi bàn về các quyền. Quá trình này kéo theo một số lượng tăng lên các “quyền” mới được ban hành, nhiều đến mức người ta không để ý thấy ý nghĩa của khái niệm quyền đang bị lật ngược. Tiền xấu đẩy tiền tốt khỏi lưu thông, tương tự, những “quyền mới in trên báo” này phủ định quyền đích thực.
---

Còn nữa...

Nguồn: http://trangridiculous.blogspot.com/2010/07/quyen-con-nguoi-phan-1.html

--> Read more..

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 7 năm 2010

Hồ Chí Minh gửi thư cho I.V.Stalin (1952)

23 tháng bảy 2010 14:50
Hồ Chí Minh gửi thư cho I.V.Stalin (1952)
(Cục lưu trữ quốc gia Nga)





Экспонаты историко-документальной выставки "Советско-вьетнамское экономическое и научно-техническое сотрудничество. 1950 - 1990 гг." Письмо Хо Ши Мина И.В.Сталину. 1952 г.
 Экспонаты историко-документальной выставки "Советско-вьетнамское экономическое и научно-техническое сотрудничество. 1950 - 1990 гг." Письмо Хо Ши Мина И.В.Сталину. 1952 г.
Đồng chí I.V. Stalin thân mến:

Tôi gửi Đồng chí dự thảo chương trình nông nghiệp của đảng Lao động Việt Nam. Dự thảo chương trình do tôi soạn thảo với sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San.

Đề nghị Đồng chí nghiên cứu  và cho chỉ thị về dự thảo này.
Gửi lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh, 31/10/1952





Đồng chí I.V. Stalin thân mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự thảo chương trình nông nghiệp của đảng lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.

- Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của Đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và nghiên cứu tình hình ở đó. Nếu như các đồng chí này thông thạo tiếng Pháp, thì họ có thể giao tiếp được với nhiều người hơn. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.

2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100  học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là đảng viên và ngoài đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ?

3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và nhân dân, có nghĩa nhận mỗi nửa năm 5 tấn.

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau:

(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.
(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.

Gửi tới Đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất!

Hồ Chí Minh

30-10-1952

đã kí
Kichbu
--> Read more..

Thứ Năm, ngày 22 tháng 7 năm 2010

Khuôn mặt mới của Yanukovich: tạp chí Korrespondent xuất bản tại Ucraina với bìa-3D đầu tiên

Khuôn mặt mới của Yanukovich: tạp chí Korrespondent xuất bản tại Ucraina với bìa-3D đầu tiên
Новое лицо Януковича: журнал Корреспондент вышел с первой в Украине 3D-обложкой

Вчера, 13:00     


Trên bìa-3D Yanukovich sử dụng mặt nạ Putin - На 3D-обложке Корреспондента Янукович примеряет маску Путина



Tạp chí “Korrespondent” trong số ra ngày 23 tháng bảy giới thiệu bìa 3D đầu tiên tại Ucraina của tuần báo – Khuôn mặt mới của chính quyền.
Trên bìa 3D của Tạp chí đã sử dụng sự so sánh trong tiến trình phát triển của Tổng thống Ucraina Victor Yanukovich và cựu tổng thống LB Na Vlаdimir Putin: Yanukovich sử dụng mặt nạ với khuôn mặt của thủ lĩnh Nga.
Để thu được hiệu ứng 3D từ bìa của tạp chí cần phải đeo kính đặc biệt đính kèm với ấn phẩm đặc biệt của Korrespondent. Tạp chí đầu tiên ở Ucraina với bìa 3D sẽ phát hành chỉ ở thủ đô - ở những vùng khác nó được phát hành với bìa bình thường.
Bìa không gia ba chiều do các biên tập và nhà thiết kế của tạp chí Korrespondent thiết kế với sự hỗ trợ của hãng Samsung. Tạp chí Korrespondent số №28 23 tháng bảy sẽ được bán.-Kichbu-
Виктор Янукович на обложке журнала "Корреспондент"

---
Новое лицо Януковича: журнал Корреспондент вышел с первой в Украине 3D-обложкой
Журнал Корреспондент в своем номере от 23 июля представляет первую в Украине трехмерную обложку делового еженедельника - Новое лицо власти.
На 3D-обложке Корреспондента обыгрываются параллели в эволюции Президента Украины Виктора Януковича и бывшего президента Российской Федерации Владимира Путина: Янукович примеряет маску с лицом российского лидера.
Для получения полного 3D-эффекта от обложки необходимо надеть специальные очки, которые прилагаются к спецвыпуску Корреспондента. Первый в Украине журнал с трехмерной обложкой будет распространяться лишь в столице - в регионах он выходит с обычной двухмерной обложкой.
Трехмерная обложка создана редакторами и дизайнерами журнала Корреспондент при поддержке компании Samsung.
В продажу Корреспондент №28 поступит 23 июля.

--> Read more..

Xin đừng ngồi bên ô cửa sổ cuối tuần!

22.07.2010, 14:00:43

Любек. Фото с официального сайта города

Lyubek - Любек. Фото с официального сайта города

Hai người tình bị rơi từ ô cửa sổ trong khi làm tình

Любовники выпали из окна во время секса

Kichbu theo http://lenta.ru/news/2010/07/22/fall/

K  

Cuối tuần chúc mọi người vui vẻ và xin lưu ý không ngồi bên bậu cửa sổKichbu

K

Một cặp tình nhân bị rơi từ ô cửa sổ trong khi làm tình (sex) trong một cuộc hẹn hò bí mật tại một căn hộ nhà lắp gép. Theo The Sun, sự cố xảy ra tại thành phố Lyubek của Đức.

.

Theo thông tin của cảnh sát, đôi người này đã làm tình trên bậu cửa sổ trong căn hộ trên tầng một (Xem tại đây) - , nơi họ thường gặp gỡ nhau kín đáo giấu giếm vợ chồng hợp pháp của mình. Trong quá trình làm tình,  người phụ nữ ngồi lưng tựa vào cửa sổ, ngã người rất mạnh ra phía sau và bị rơi từ ô cửa sổ kéo theo người tình của mình.

.

Bị ngã xuống đất, hai người Đức trần truồng cố làm ra vẻ rằng, họ không làm tình. “Ở chúng tôi chẳng có sex gì cả. Chúng tôi đơn giản là chỉ là đùa nhau. Tôi nói chung không nhớ chúng tôi đã bị ngã như thế nào nữa”, - người phụ nữ nói với những người chứng kiến sự cố. Kết quả những người Đức phản bội vợ chồng của mình đã bị gãy xương và chấn thương khác.

.

Điều kỳ lạ là người chồng hợp pháp của người phụ nữ bị rơi từ ô cửa sổ vào đúng ngày ấy cũng gặp phải trường hợp bất hạnh – ông bị té xuống đất từ mái nhà ông đang sửa chữa.-Kichbu-

---

Любовники выпали из окна во время секса

Любовники выпали из окна во время занятия сексом на тайном свидании в съемной квартире. Как пишет The Sun, инцидент произошел в немецком городе Любеке.

По данным полиции, пара занималась сексом на подоконнике в квартире на первом этаже, где они регулярно встречались втайне от своих законных супругов. В процессе женщина, сидевшая спиной к окну, слишком сильно откинулась назад и выпала из оконного проема, увлекая за собой своего любовника.

Упав на землю, голые немцы попытались сделать вид, что не занимались сексом. "Не было у нас никакого секса. Мы просто дурачились. Я вообще не помню, как мы упали", - заявила женщина очевидцам произошедшего. В результате падения из окна изменявшие своим супругам немцы получили переломы и другие травмы.

Примечательно, что законный муж выпавшей из окна женщины в тот же день также пострадал в результате несчастного случая - он упал с крыши, которую ремонтировал.

Ссылки по теме
- Ropm couple fall from flat window - The Sun, 21.07.10
- Житель Спрингфилда случайно выстрелил в жену во время секса – Lenta.ru, 05.12.2008


--> Read more..

Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam!

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam

Văn phòng Nhân quyền

Phát hành tháng một kỳ

Số 1, 6/2010

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng,

Thứ trưởng Bộ Công an

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.


Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng  họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

---

BS chú thích:

- Bài đăng trên tạp chí in, không có trên mạng, được đánh máy lại nguyên văn, không biên tập để đảm bảo tính chính xác về bản chất nội dung.

- Tấm hình có các vị chức sắc Phật giáo do nằm liền trên hai trang nên khi sao chụp chất lượng không được tốt. Với trang tạp chí có độ dày nhất định mà dàn tấm hình trang trọng như vậy làm hai, thành thử vị cao tăng Thích Thanh Tứ  dễ bị “các thế lực thù địch” tưởng ta ám chỉ ổng “Thân này khoái xẻ làm hai mảnh/Mảnh cho đời và mảnh cho … quan”.

- Mời đọc tin liên quan:    

 Trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng về Nhân quyền

Nguồn: anhbasam.com

Đọc tiếp:

Đọc thoại nhân quyền

Tống văn Công

image Có thể có vài bạn đọc nào đấy sẽ không hứng thú với cách viết hơi thiên về hồi tưởng tản mạn của bài này. Nhưng đây chính là những dòng tự sự phơi bày hết gan ruột của một đảng viên cộng sản chân chính, đã từng tự nguyện đắm vào một giấc mơ đẹp, và sau đó cũng chính mình tự ý thức được cái ám ảnh khủng khiếp của sự vỡ mộng. Song ngay khi đã nhận ra mình ảo tưởng thì dường như lại cũng có cái phần nào đấy vẫn đang tiếp tục sống trong ảo tưởng mà chưa thấy hết, bởi mộng và tỉnh mộng – một quá trình vật vã – đối với con người này đã… trở thành định mệnh. Vâng, đó chính là đặc điểm của cả một hế hệ sắp sang trang mà người viết mấy dòng giới thiệu này cũng không khác.

Nguyễn Huệ Chi

Ngày 14-7-2010 báo chí trong, ngoài nước đều đưa tin Chính phủ Việt Nam ra mắt tạp chí Nhân quyền Việt

Nam với sự có mặt và phát biểu ý kiến của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Trưởng ban chỉ đạo về nhân quyền. Có lẽ đây là một tạp chí được ra mắt long trọng nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam. Tôi hết sức quan tâm ba nhiệm vụ của tạp chí này do Phó thủ tướng chỉ đạo:

1 – Tuyên truyền các thành tựu đạt được trong lĩnh vực nhân quyền; 2 – Đấu tranh chống các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo xuyên tạc, can thiệp vàò sự phát triển của Việt Nam; 3 – Kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền.

Phải chi ông Phó thủ tướng chỉ đạo thêm cho tạp chí sớm mở mục thảo luận: Nhân quyền là gì? Tại sao lại gọi là nhân quyền phương Tây và nhân quyền Việt Nam, nó cơ bản khác nhau chỗ nào? Nội dung nhân quyền trong 8 yêu sách của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị Versailles có gì khác với quan điểm của Đảng ta ngày nay? Nếu không có gì khác thì tại sao chúng ta không thực hiện? Quan điểm đúng đắn về nhân quyền của Nhà nước ta còn có những chỗ yếu nào, lổ hổng nào khiến cho hàng chục năm nay cứ bị kẻ thù lợi dụng xuyên tạc? Và chúng ta cũng nên tìm những bài học thực hiện nhân quyền của những quốc gia luôn luôn được dư luận quốc tế tặng điểm son xem họ đã làm thế nào mà giỏi thế? Như vậy sẽ thiết thực và tạo điều kiện để mong ước của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh phải thành sự thật?

Mới đây , ông Michael W. Michalak Đại sứ Mỹ trả lời nhà báo Nguyễn Anh Tuấn của Tuần Việt Nam, đã ca ngợi quan hệ Việt – Mỹ phát triển hết sức tốt đẹp, kể cả về quốc phòng, đã đạt tới "đối tác chiến lược". Sau đó, ông ấy thẳng thừng trả lời rằng, tuy vậy vẫn chưa thể trao vũ khí cho Việt Nam được, vì bị "ảnh hưởng của vấn đề nhân quyền"! Ông cũng thẳng thắn cho rằng Mỹ chưa thể tính tới việc trở thành đồng minh của Việt Nam, vì đã là đồng minh thì phải chịu trách nhiệm về an ninh cho nhau mà Mỹ và Việt Nam thì hãy còn những khác biệt về thế giới quan, khác biệt về dân chủ, về tự do báo chí…

Vậy thì những lời đáp hết sức thẳng thắn và công khai của ông Đại sứ Mỹ, chúng ta nên coi đó là lời thiện chí của bạn bè hay phải coi là âm mưu của bọn thù địch?

Cách đây hơn nửa năm, ngày 10-10-2009, trong diễn văn bế mạc Hội nghị trung ương Đảng của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh có câu: " Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển". Ông cho biết "Hội nghị biểu thị sự đồng tình cao" nội dung này trong văn kiện sẽ trình Đại hội Đảng.

Đọc xong, tôi không khỏi băn khoăn. Dù được đặt ở địa vị "chủ thể ", "mục tiêu", nhưng khi đã gọi là "nhân tố" (Có nghĩa là "Yêu cầu cần thiết, gây ra, tạo ra cái gì đó" – Từ Điển tiếng Việt) thì dù được "phát huy tối đa", con người vẫn chỉ là công cụ? Không! Con người là "đốí tượng thụ hưởng chủ yếu và tham gia vào quá trình thực hiện những quyền này (nhân quyền) và các quyền tự do.

Mới đây, trong buổi gặp gỡ những người có công với đất nước, nhân ngày Thương binh Liệt sĩ, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc nhở rằng "Để tỏ lòng nhớ ơn những anh hùng liệt sĩ, việc đầu tiên là phải bảo vệ vững chắc chế độ xã hôi chủ nghĩa". Tôi những muốn ông nói thêm rằng, việc đầu tiên trong đổi mới xã hội chủ nghĩa là tích cực thực hiện đầy đủ nhân quyền cho nhân dân Việt Nam đã quá nhiều đau khổ hy sinh phải được mở mày mở mặt như thiên hạ đang sống ở các quốc gia văn minh tiến bộ .

Trong những ngày ở tù Hồ Chí Minh dù chịu muôn vàn gian khổ thiếu thốn vật chất, nhưng ông chỉ khao khát tự do: "Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do" ; "Còn lại trong tù khách tự do"; "Tự do tiên khách trên trời/Biết chăng trong ngục có người khách tiên"; "Trên đời ngàn van điều cay đắng/Cay đắng chi bằng mất tự do!"…

Năm 1950, khi đang học ở trường trung học giữa rừng U Minh an toàn, hưởng ứng lệnh chuẩn bị tổng phản công, tôi đã cùng hàng trăm đồng học làm đơn xin đóng cửa trường để được gia nhập Vệ quốc đoàn, giành quyền sống cho con người Việt Nam mất nước. Niềm tự hào là thành viên của lực lượng giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong chúng tôi được nâng lên không ngừng: xóa bỏ bóc lột, đem lại bình đẳng… Rời tay súng, tôi tập tành cầm bút với niềm tin viết để bênh vực cho công nhân lao động, những con người thấp cổ bé họng; viết ca ngợi sự nghiệp độc lập, tự do, hạnh phúc đã đơm bông kết trái; viết để làm sáng lên chân lý "Việt Nam là lương tri của cả loài người tiến bộ".

Tháng 6 năm 1993, Hội nghị Nhân quyền thế giới họp

ở Vienna, thủ đô nước Áo, có 6.000 đại biểu của 183 nước tham dự. Một đoàn người Việt ở nước ngoài cầm cờ vàng ba sọc đỏ kéo tới trước nơi họp phản đối đoàn đại diện của Chính phủ Việt Nam, đòi thực hiện nhân quyền cho nhân dân Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam hồi đó là ông Lê Mai tuyên bố rằng, những người Việt ấy "làm chính trị chứ không phải làm nhân quyền". Nhất trí với nhận xét của ông, tôi đã viết bài báo có tựa đề là "Đối thoại nhân quyền" với bút danh Thuận Lý, đăng trên trang nhất báo Lao động ngày 24-6-1993, trước khi Hội nghị bế mạc một ngày. Bài viết có những câu "Những kẻ toan tính đè bẹp chúng ta trong chiếc bẫy nhân quyền đã không chịu hiểu rằng, hơn nửa thế kỷ qua, nhân quyền luôn luôn là mục tiêu nhằm đạt tới của toàn Đảng, toàn dân ta. Từ năm 1925, Bác Hồ đã viết "Công nông mình cứu lấy mình/ Sửa sang thế đạọ, kinh dinh nhân quyền"; "Trước đây, nhân quyền cao nhất là "Không có gì quý hơn độc lập tự do", còn ngày nay: "Đầu tiên là công việc đối với con người". Ít lâu sau, tôi mới nhận ra câu này tôi trích từ bản Di chúc ông cụ viết năm 1968, nhưng đã bị bỏ đi . Trong bản Di chúc được công bố thì "Trước hết nói về Đảng"!

Sau ngày báo phát hành, anh Nguyễn Kiến Giang đến tòa báo gặp tôi, nói: "Mình xem Tống văn Công là người bạn tốt. Còn ông Tổng biên tập Tống văn Công thì dù đã dám đưa mình vào danh sách cộng tác có trả lương hàng tháng, mình vẫn phải thẳng thắn nói rằng, bài vừa rồi không thể gọi là "Đối thoại nhân quyền" mà phải nói, Tống văn Công chỉ "độc thoại"!

Nếu nhận xét đó là của một người nào khác thì chắc tôi không thể ngồi im. Nhưng đây là Nguyễn Kiến Giang, người khi tuổi lên 3 phải theo mẹ tới nhà tù Lao Bảo thăm bố là tù cộng sản, 16 tuổi được đặc cách kết nạp vào Đảng khi cuộc kháng Pháp tới gần, 20 tuổi vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo một vùng đất được nhạc sĩ Nguyễn văn Thương vinh danh trong bài hát "Bình-Trị-Thiên khói lửa". Vậy mà, chỉ vì dám bảo vệ quan điểm chống sùng bái cá nhân, đề nghị thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội, bênh vực quyền tự do tư tưởng,

anh đã bị giam vào trại tù cải tạo nhiều năm không qua xét xử. (Cùng bị giam với anh còn có hằng chục đảng viên khác). Lời nói của anh có sức nặng của cả đoạn đời tươi đẹp nhất bị mất trắng và những giọt nước mắt của vợ con anh suốt mấy ngàn ngày. Bản thân anh là một bài học sống của một người dám hy sinh để đạt tới nhân quyền! Tôi phải nghiêm túc lắng nghe, thành tâm trao đổi ý kiến với anh. Và tôi chợt tỉnh như một người mãi đi theo quán tính mà không nhận ra rằng khi đã đi hết đoạn đường giành Độc lập thì phải rẽ vào bước ngoặt của con đường để tiến tới Tự do, Hạnh phúc. Hồ Chí Minh chẳng đã cảnh báo rằng "Nếu nước được độc lập mà dân không có tự do hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" đó sao?

Tuyên bố Vienna và Chương trình hành động, được Hội nghị Nhân quyền thế giới thông qua ngày 26-6-1993 cho rằng "bảo vệ các quyền con người và quyền tự do cơ bản trên bình diện quốc gia và quốc tế cần mang tính phổ cập và được thực hiện vô điều kiện". Ở điều 5 của chương 2, viết: "Hội nghị Nhân quyền khuyến khích các quốc gia xem xét hạn chế mức độ các bảo lưu của họ đối với các công ước quốc tế về nhân quyền, các bảo lưu cần chính xác và hẹp tới mức có thể bảo đảm rằng không có bảo lưu nào không phù hợp với các mục đích và mục tiêu của Công ước liên quan và thường xuyên xem xét lại các bảo lưu nhằm rút bỏ chúng".

Anh Nguyễn Kiến Giang gợi ý hai chúng tôi cùng giở lại Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc mà trước đó 13 năm Nhà nước Việt Nam đã gia nhập, xem chúng ta còn "bảo lưu" những gì. Buồn thay, hầu như chúng ta "bảo lưu" hầu hết những quyền cơ bản của con người mà chính Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đặt ra sớm hơn hàng chục năm so với các Công ước và Tuyên bố nói trên của Liên hiệp quốc.

Càng nguy hiểm hơn khi chúng ta không gọi là "bảo lưu" mà cho rằng thực hiện nhân quyền phải thích hợp với truyền thống văn hóa; rằng thực hiện quyền con người phải gắn với lợi ích dân tộc, gắn với an ninh Tổ quốc, gắn với quyền làm chủ của nhân dân". Tức là theo Đảng và Nhà nước Việt Nam, trên đời này có 2 thứ nhân quyền rất rạch ròi, của ta và của Tây, mỗi bên cứ biết phận mình đừng ai xía vào chuyện ai! Nếu vậy thì liệu có thể lấy gì để đo, đếm, để nhận sau khi Tổ quốc thống nhất con người Việt Nam đã được hưởng nhân quyền và các quyền tự do hơn ngày xưa hoặc hơn các dân tộc khác hay không? Xin thưa cũng có phép đo rất chính xác đấy!

Khi con người tự thấy mình phải được hưởng các quyền tự do mà Tạo hóa đã ban cho thì người ta sẽ thoát khỏi mọi nổi sợ hãi, người ta sẽ rất tự tin nói lên điều mình nhận biết khác hẳn mọi người, giống như Galileo kêu lên quả đất tròn. Con người tự do sẽ đầy sức sáng tạo, làm ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho mình và cho đất nước. Vậy con người Việt Nam 50 năm, 30 năm và hiện nay ra sao?

Con người Việt Nam, đặc biệt là những đảng viên cộng sản Việt Nam luôn tự hào đã kiên cường đối mặt với "hai đế quốc to", sau khi được sống trong Nhà nước của dân, do dân vì dân thì càng ngày càng co rúm lại, không ai dám nói những điều mình nhận thấy! Bởi trước mắt họ nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang chỉ đề nghị "pháp trị" đã lập tức trở thành tên phản động. Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, nguyên Chính ủy Hà Minh Tuân viết tiểu thuyết Vào đời đã phải trở thành anh cưa gỗ. Việt Phương viết một câu thơ "Bùn đã vấy đến chín tầng mây, đã phải rời Văn phòng Thủ tướng đi lao động ở nông trường!… Tôi chỉ xin nêu ra đây vài điều thổ lộ âm thầm của một số nhân vật có vị trí cao trong Đảng và trong xã hội.

Nhà văn Nguyễn Tuân một người nổi tiếng tài hoa và sống ngay thật đã từng nói với bạn bè "Mình tồn tại tới giờ là do biết sợ".

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết nhật ký, ngày 18-3-1958: "Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai, sợ rồi một ngày kia người ta đem ra liên hệ". Ngày 10-7-1959 ông viết: "Thấy không khí vẫn có cái gì nằng nặng. Không ai nói một ý gì khác. Ít ai suy nghĩ. Trên bảo thế nào cứ y thế. It ai ra khỏi cái khuôn sáo của công thức".

Nhà văn Nguyễn Khải viết năm 2006 (Nhưng dặn con chỉ công bố khi ông đã qua đời!): "Được gặp gỡ các nhà văn nhà báo, các nghệ sĩ chế độ cũ mà thèm. Họ sống thoải mái quá, cử chỉ khoáng đạt,như chưa từng biết sợ ai. Còn mình thì đủ thứ sợ, sợ gặp người thân vì không biết họ có liên quan gì với Mỹ, ngụy? Nói cũng sợ vì nói thế đúng hay sai? Đến vẻ mặt cũng phải canh chừng, vui quá sợ mất cảnh giác ,khen quá có thể ăn bả của nền kinh tế tư bản".

Còn bao nhiêu người khác không phải nhà văn, họ không viết ra, nhưng chắc chắn biết bao sợ hãi cất giấu trong lòng. Có người thắc mắc, tại sao những đảng viên cộng sản rất kiên cường trong nhà tù đế quốc, lại tỏ ra quá hèn kém sợ hãi trước Đảng? Theo tôi, đó là vì họ chưa bao giờ nhìn Đảng như nhìn kẻ địch, họ luôn nghĩ, nếu Đảng có phạm sai lầm thì cũng chỉ là tạm thời, rồi Đảng sẽ nhận ra, sẽ sửa sai. Thậm chí có nhiều người trước khi bị đội cải cách ruộng đất xử bắn vẫn hô to: "Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!" Gần đây những dân oan đi biểu tình cũng hô như thế! (Tuy nhiên ngày nay đã có khác xưa: Nhiều người chỉ tìm cách để đối phó!).

Phranklin D. Roosevelt, trong diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ đã nói một câu rất sâu sắc: "Điều duy nhất đáng sợ chính là bản thân sự sợ hãi". Câu nói đó đã khuyến khích người dân Mỹ tự do tranh cãi tìm hướng đi cho nước Mỹ vượt qua thời kỳ khủng hoảng để phát triển. Họ chất vấn Tổng thống có định đưa đất nước vào con đường xã hội chủ nghĩa hay không? Họ tranh cãi: Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Dân chủ xã hội cái nào tốt hơn, cái nào đem lại phúc lợi xã hội nhiều hơn. Trong một thông điệp hằng năm, ông viết: "Dân chủ là một khế ước giữa những con người tự do". Tự do đã gắn kết người dân gồm nhiều chủng tộc vào hợp chủng quốc đoàn kết, đồng lòng hợp sức còn hơn nhiều quốc gia chỉ có dân tộc thuần chủng mà lại thiếu Tự do. Tự do đã đưa nước Mỹ, một quốc gia sinh sau đẻ muộn nhanh chóng trở thành siêu cường, có vai trò dẫn đầu thế giới. Tự do đúng như nhà bác học Einstein nói: "Không có tự do sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur… Vì chỉ con người tự do mới làm ra những khám phá và giá trị tinh thần, những thứ làm cho cuộc sống của chúng ta, những con người hiện đại, trở nên đáng sống" (Einstein, do Nguyễn Xuân Xanh biên soạn). Có thể nói thêm là không có tự do thì cũng không có EInstein! Có phải vì thiếu tự do mà các Giáo sư, Tiến sĩ Việt Nam có số công trình, bài viết hàng chục lần ít hơn và thấp kém hơn các đồng nghiệp trong vùng?

Einstein còn tiên đoán hơn nửa thế kỷ về những trở ngại khó vượt qua của chủ nghĩa xã hội. Ông nói: " Chủ nghĩa xã hội phải đối mặt với một vấn đề chính trị – xã hội không dễ giải quyết: Làm sao, trong một sự tập trung rộng lớn quyền lực chính trị và kinh tế, ngăn ngừa được việc bộ máy quan liêu quá lớn lao, quá phình lên, đến nỗi cá nhân teo lại về chính trị và với nó, cái đối trọng dân chủ trước quyền lực của bộ máy quan liêu cũng teo theo luôn"! Như vậy theo Einstein, con người cá nhân bị teo lại, làm mất "đối trọng dân chủ", như vậy không phải khiến cho nhà nước xã hội chủ nghĩa mạnh lên mà khiến cho nó lâm vào tình trạng nguy hiểm! Ba mươi lăm năm sau ngày Einstein qua đời, lời ông nói ở trên đã được ứng nghiệm với sự sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng lẽ chúng ta không học được gì từ cảm nhận tiên tri của con người vĩ đại ấy cho bài học nhân quyền, cho sự nghiệp đổi mới xã hội chủ nghĩa? Tại sao chúng ta không thể thực hiện tự do báo chí đúng như điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc mà Nhà nước ta từ ngày 24-9-1982 đã cam kết thực hiện, để người dân Việt Nam được "tận hưởng tự do về dân sự và chính trị, không bị sợ hãi"? (Lời nói đầu Công ước). Sợ địch lợi dụng ư? Vậy thì xin nhắc lại rằng: Ngày 22-7-1938 tại số nhà 43 đường Hamelin (nay là Lê thị Hồng Gấm), Sài Ggòn, tờ báo Dân chúng của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản số đầu tiên không xin phép và sau đó được chính quyền thuộc địa chấp nhận, trở thành tờ báo mở đầu cho nền tự do báo chí ở nước Việt Nam thuộc địa, nhân dân đang sống trong thân phận nô lệ. Chẳng lẽ một Nhà nước thống nhất vững mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào lại sợ hãi một kẻ địch vô hình hơn cả thực dân Pháp sợ một đảng cách mạng của một nhân dân đang bị chúng nô dịch? Hay vì cho rằng dân trí Việt Nam còn quá thấp chưa đủ bản lĩnh phân biệt đúng sai? Coi chừng luận điệu ấy phạm vào tội coi khinh quần chúng cách mạng Việt Nam đã đổ bao xương máu cho Tổ quốc và cho sự trưởng thành của Đảng Cộng sản. Và hãy nhìn sang Cam puchia, người anh em mà chúng ta hằng tự hào đã giúp cho họ thoát nạn diệt chủng, đã làm cố vấn cho họ nhiều mặt, nay họ đã thực hiện tự do báo chí đầy đủ theo điều 19 của Công ước quốc tế, hơn hẳn chúng ta. Chẳng lẽ dân trí Việt Nam đã thua sút hẳn Campuchia?

Cách đây gần 20 năm, cụ Nguyễn Văn Trấn, nhà báo

Việt Nam lỗi lạc, thành viên Ban biên tập của báo Dân chúng từ số đầu tiên, và phải ngồi tù khi sắp nổ ra chiến tranh thế giới, chính quyền thuộc địa giở trò phát xít, đã phải kêu lên: "Xin Quốc hội thực hiện quyền tự do báo chí cho nước ta bằng với chế độ thực dân Pháp!"

Chao ơi, sao mà đến nông nổi này!

Còn tự do lập hội? Chính Cụ Tôn Đức Thắng đã lập Công hội không xin phép ở Ba Son từ năm 1920. Cụ bị bắt không phải vì tội lập hội. Ra đời dưới chế độ thuộc địa còn có thể kể hai Hội nữa, hội của nhà văn là Tự lực văn đoàn (Có người cho rằng trong lịch sử cho đến nay, các nhà văn Việt Nam chưa có một hội đoàn nào sánh kịp Tự lực văn đoàn về dân chủ, về hiệu quả hoạt động) và hội của nhà giáo là Hội Truyền bá quốc ngữ lập ra đều không phải xin phép nhà cầm quyền. Nhớ lại năm 1992, khi tôi có dịp ra Quảng Ninh, nhà báo Ngô Mai Phong có đưa anh Nguyễn Văn Dũng Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh này đến thăm tôi ở khách sạn Hạ Long. Sau khi nâng ly bia ới anh, máu nghề nghiệp nổi lên, tôi đề nghị anh cho tôi làm một cuộc phỏng vấn. Anh ngạc nhiên: " Có gì bức thiết mà đang nhậu vui anh Công lại đòi phỏng vấn?" Tôi nói: "Trong báo cáo tổng kết hằng năm, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có nhận xét rằng hệ thống công đoàn tỉnh Quảng Ninh rất yếu. Cách đây gần 30 năm, trong hội nghị tổng kết hoạt động công đoàn tại Trường Công đoàn Trung ương, tôi được chứng kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh gay gắt hỏi ông Lê Bùi Chủ tịch Công đoàn Quảng Ninh: "Hằng ngày chú làm gì mà công nhân khổ sở kêu mãi không thấu tai chú?". Vậy là sự yếu kém quá lâu! Tôi muốn đồng chí Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, phân tích nguyên nhân của sự yếu kém kéo quá dài đó". Anh Dũng cười, thoải mái đáp: " Tôi trả lời được, nhưng e rằng anh Công lại không đăng được!" Tôi quả quyết: " Anh dám nói thì tôi dám đăng. Tôi biết tôn trọng quyền tự do ngôn luận của anh mà !" Anh Dũng với vẻ mặt nghiêm hẳn, lên giọng: "Lý do đơn giản thôi, vì hệ thống công đoàn của chúng tôi được tiếng là đại diện cho hàng vạn công nhân vùng mỏ giàu truyền thống cách mạng, nó tự hào tới mức kiêu căng, trong khi đó một mình một chợ, nó không có tổ chức công đoàn nào khác cạnh tranh, để người công nhân được quyền chọn lựa vào công đoàn nào bảo vệ mình tốt hơn. Trong tình hình đó nó không yếu kém thì mới lạ! "Dứt câu anh nhìn tôi chờ phản ứng. Tôi cất máy ghi âm vào túi, nâng ly bia với anh, cười thẳng thắn: " Tôi xin chịu thua! Thôi ta chỉ nhậu, không nói chính trị nữa!". Tôi tự biết mình không đủ sức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của anh Dũng như vừa mới hứa. Bởi cách đó không lâu, tôi có ý kiến với Đảng đoàn Tổng liên đoàn lao động, xin cho Chủ tịch Công đoàn các cấp đứng ngoài Ban thường vụ và Ban chấp hành của Đảng cùng cấp, để giữ được tính độc lập của tổ chức Công đoàn. Sự tôn trọng tổ chức công đoàn chỉ cần có quy định cho Ban thường vụ Đảng họp thì phải mời Chủ tịch Công đoàn. Nếu hai bên trái ý nhau thì chuyển vấn đề lên cấp trên. Vì ý kiến ấy tôi đã bị không ít người cho rằng, đó là mầm mống của tư tưởng đòi Công đoàn thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một thứ Công đoàn Đoàn Kết. Qua chuyện phỏng vấn hôm đó tôi và anh Dũng hiểu nhau, quý trọng nhau mãi cho tới giờ.

Sau Đại hội 6 – Đổi mới, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, có Nghị quyết 8B về đổi mới các đoàn thể quần chúng: "Trong giai đoạn mới cần thành lập các Hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của nhân dân, hoạt đông theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức này được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật". Nhờ có Nghị quyết 8B, các nhà nghiên cứu đã dám mạnh dạn phân tích sự trì trệ lâu nay của các đoàn thể. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Viện nghiên cứu xã hội viết: "Từ năm 1975 đến 1985 hầu hết các tổ chức xã hội dân sự chính thức đều bị hành chính hóa, được bao cấp và kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước. Trong cơ chế này các tổ chức xã hội dân sự hầu như mất đi vai trò năng động và tự chủ của mình trong việc huy động các nguồn lực cho xã hội, cũng như đại điện cho lợi ích của các thành phần trong xã hội". Tiếc thay Nghị quyết 8B về đoàn thể quần chúng cũng chịu yểu mệnh như Nghị quyết 5 về tự do sáng tác của văn nghệ sĩ. Bởi vì sau sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa các thế lực bảo thủ muốn gò ép trở lại.

Thử đem bức tranh về các tổ chức xã hội dân sự mà

tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường phác họa khá chính xác cách đây 25 năm so lại với các đoàn thể hôm nay, từ Công đoàn,Thanh niên, Phụ nữ, Nông hội, Nhà báo, Nhà văn … có phải vẫn còn y nguyên bộ mặt "hành chính hóa" của ngày hôm qua?

Nhân quyền! Con đường dằng dặc của nhân loại đi tìm sự tự khẳng định mình. Từ sự thờ cúng vật linh tới thờ cúng thần thánh có hình ảnh giống mình là một bước giải phóng đầu tiên. Từ thờ cúng thần thánh con người tìm ra Thượng đế và trước Thượng đế con người tự thấy mình là những cá nhân bình đẳng, đó là một cuộc giải phóng quan trọng tiếp theo. Rồi cuộc cách mạng vĩ đại về thế giới quan xảy ra ở thời kỳ Phục hưng đã hoán vị con người vào vị trí của Thượng đế. Chính bước nhảy vọt phi thường này đã đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn ở thế kỷ Ánh sáng. Không phải thần thánh, không phải Thượng đế mà là Con người có những quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho, với lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Quyền con người và chủ nghĩa dân chủ đã được thực hiện trong cuộc Cách mạng Mỹ 1776 và Đại cách mạng Pháp 1789. Ở các quốc gia này, con người được sống trong xã hội công dân, mỗi cá nhân là một chủ thể bình đẳng về các quyền tự do, quyền sở hữu tài sản và được bảo vệ bởi pháp luật. Đâu phải vô cớ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập nước ta bằng những câu về Nhân quyền, Dân quyền trích từ hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp:

- "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

- "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Nhân quyền và dân quyền đâu phải chỉ là giá trị của văn minh phương Tây, đó là giá trị văn minh của toàn nhân loại! Chẳng lẽ những người công kích nhân quyền phương Tây không thấy rằng đó là sự xúc phạm Cụ Hồ?

Ngày nay hàng trăm dân tộc đã sánh bước trên trên con đường tự do – dân chủ. Trong tự do, Thomas L. Friedman nhìn ra thế giới phẳng, ở đó con người cá nhân có đủ điều kiện vươn ra toàn cầu tìm chỗ đứng cho mình. Cũng trong tự do, Naomi Klein bảo rằng thế giới không phẳng, toàn cầu hóa còn có những mặt khuất và bà kêu to: "Hãy đặt con người lên trước lợi nhuận"! Con người Việt Nam chịu quá nhiều đau khổ hiện đang ở mặt khuất nào trong thế giới vừa phẳng vừa không phẳng này đây?

Tôi tha thiết mong rằng tạp chí Nhân quyền Việt Nam, khuôn mặt trẻ nhất, mới nhất, thời đại nhất của nền báo chí Việt Nam đã có hơn 150 năm tuổi, phải xứng đáng là ngọn đuốc soi sáng những mặt khuất của Nhân quyền Việt Nam. Trước hết hãy làm sáng tỏ để thực hiện cho kỳ được 2 điều trong 8 điều mà cách đây gần tròn 100 năm Nguyễn Ái Quốc đã đòi cho nhân dân Việt Nam:

- Tự do báo chí và Tự do ngôn luân. Điều mà sau ngày độc lập cụ đã diễn đạt một cách nôm na: " Dân chủ là mọi người dân được mở miệng".

- Tự do lập hội và tự do hội họp.

Cả 2 điều ấy cần phải được hiểu và được thực hiện đúng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam đã gia nhập từ 24-9-1982 và cam kết thực hiện.

Đó là điều 19:

1 – Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.

2 – Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận, và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng chữ viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.

3 – Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:

- Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác.

- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng.

Điều 22 :

1- Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình.

2 – Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc các quyền và tự do của các người khác. Điều này không ngăn cản việc hạn chế hợp pháp đối với những người trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.

3 – Không một quy định nào của điều này cho phép các nước tham gia Công ước 1948 của Tổ chức lao động quốc tế về tự do lập hội và bảo vệ quyền được tổ chức hội được tiến hành những biện pháp lập pháp, hoặc áp dụng luật làm phương hại đến những đảm bảo nêu trong Công ước đó.

Làm được những điều ấy, tạp chí Nhân quyền Việt Nam sẽ góp phần đáng trân trọng, làm bừng lên ước vọng tự do, dân chủ, tạo ra sức mạnh chấn hưng dân khí, mở mang dân trí, đưa Tổ quốc và Nhân dân Việt Nam ta lên ngang tầm thời đại.

Ngày 18-7-2010

TVC

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Nguồn: boxitvn.wordpress.com

 

--> Read more..

Nhìn người Áo Đổ nghĩ về dân Việt

22/07/2010

Nhìn người Áo Đỏ nghĩ về dân Việt

Lương Khanh

clip_image002

Một phụ nữ Áo Đỏ săn sóc một quân nhân giữ trật tự tại đường Ratchdamri. Ảnh AP

Sự chênh lệch lợi tức của người dân Thái thật ra không quá lớn. Nông dân nhiều người có xe hơi, dù chỉ là loại xe tải nhỏ rẻ tiền. Nông dân Thái được bảo vệ hữu hiệu bằng nhiều biện pháp ổn định giá nông sản mà Việt Nam có thể học nếu các quan chức đừng quá tham lam và đòi những khoản lời quá lớn trên mồ hôi nước mắt của người nông dân”.

Thưa anh Lương Khanh, anh đề xuất một điều kiện để cho nông dân Việt Nam mở mày mở mặt được, thật quý, nhưng chúng tôi cam đoan đây là chuyện “mò kim đáy bể” mất rồi. Đến anh hùng xã hội chủ nghĩa từ đời cha đến đời con mà họ còn tìm mọi cách bỏ tù được để bóc cho đến... cái lai quần của chị kia mà.

Bauxite Việt Nam

Nhân đọc bài của blogger Kami và đóng góp ý kiến của một số vị am hiểu về tình hình Thái Lan, tôi cũng xin góp một ít hiểu biết nhỏ của mình sau một số năm làm việc ở nước này, cùng với một vài nhận xét nhân dịp có mặt đúng vào dịp người biểu tình Áo Đỏ kéo về tràn ngập thủ đô Thái Lan trong vòng gần hai tháng trước đây.

Những điều blogger Kami kể về Thái Lan hầu hết đều đúng, chỉ có điều hơi được “nống” lên một chút xíu. Điều này cũng dễ hiểu vì nhiều điều bạn Kami biết là do người bạn Thái kể lại, mà người Thái thì trăm người như một, sẽ không một ai nói cho bạn biết là nước Thái của họ không phải là nơi tốt đẹp nhất thế giới. Tôi chưa từng gặp người Thái nào đi ngoại quốc về, kể cả đi Mỹ, Âu châu hoặc Nhật về, mà không nói câu “mường Thày đi quà,” nghĩa là, không bằng nước Thái. Chắc chắn là không có cái cảnh phải thấy nhục nhã khi phải cầm hộ chiếu nước Thái khi đi ra nước ngoài.

Người ngoại quốc sống tại Thái hầu hềt hài lòng với cuộc sống dễ chịu ở Thái, căn cứ trên một số tiêu chuẩn: dịch vụ tốt, giá cả rẻ và ốn định, xã hội ít tệ nạn. Rất nhiều người ngoại quốc chọn sống hưu trí tại Thái. Nổi bật nhất ở đây là sự ổn định giá cả. Dịch vụ theo tiêu chuẩn 4, 5 sao có thể tìm thấy ở đây với giá chỉ bằng nửa nơi khác. Taxi từ phi trường về trung tâm thành phố cách xa khoảng 30 cây số chỉ mất khoảng 6, 7 đô Mỹ. Một cuốc taxi trung bình trong thành phố chỉ tốn 2, 3 đô. Giá ban đầu khi bước lên taxi là 35 baht, được giữ nguyên không thay đổi từ hơn 15 năm nay.

Đúng là có những tuyến đường xe buýt miễn phí cho một số chuyến trong ngày, nhất là những tuyến đi qua những khu nghèo như khu chợ Klong Toey. Người Thái thích làm phước, ưa giúp đỡ, chuộng sự thành thật, tánh tình phóng khoáng, ham vui, không gắng sức quá khi làm việc, thích sự dễ dãi, không thích đôi co cãi cọ. Phong thái đàng hoàng bình tĩnh của họ đến người các nước văn minh phương Tây cũng phải nể phục. Họ chú trọng đến việc ăn mặc, giữ vệ sinh cá nhân rất tốt, luôn giữ phong thái điềm tĩnh, và rất khinh thường sự lôi thôi và thái độ hung hãn. Khung cảnh thường thấy ở các quán nhậu là trên những bàn xếp đầy vỏ chai bia nhưng người nhậu thì vẫn nói năng ở mức bình thường, không nói lớn, và quần áo thì vẫn tề chỉnh.

Nói về sự lễ phép thì tôi không biết có dân tộc nào có thể sánh được với người dân Thái, có chăng là người Nhật? Ngay từ lúc những em bé mới chập chững biết đi, các em đã được dạy chắp hai bàn tay nhỏ xíu trước ngực để vái chào người lớn. Càng lớn lên, càng học nhiều các em càng lễ phép thêm, và sự lễ phép chính là cách người Thái biểu tỏ giáo dục của mình. Xem tin tức trên ti vi, người ta luôn nghe thấy các dân biểu, quan chức và cả Thủ tướng dùng rất nhiều lần chữ đệm “krab” (“ka” cho phụ nữ) trong câu nói của họ, một chữ tương đương với chữ “dạ thưa” của ta. Rất nhiều lần tôi đi qua khu thương mại Siam Square, bị các thanh thiếu niên chơi đùa trên hè phố va phải, bao giờ chúng cũng quay lại chắp hai tay xin lỗi, một điều tôi chưa bao giờ thấy trong tất cả những nước Á cũng như Âu mà tôi đã đi qua.

Nhìn trên một phương diện khác, sự lễ phép thái quá cũng là một trở ngại cho sức sáng tạo của học sinh Thái. Học sinh Thái thường không nổi tiếng về sự xuất sắc trong việc học, dù trường học ở Thái được chăm sóc khá chu đáo và các bậc học đều miễn phí. Có lẽ do thói quen được gò ép trong khuôn khổ, cũng như thích sự dễ dãi mà không ưa cam khổ, học sinh Thái, cũng như suy rộng ra cho người dân Thái, không có động lực mạnh để vươn tới những chân trời xa. Phải chăng vì vậy mà Thái Lan khó bứt lên để vượt cái bẫy thu nhập trung bình?

Áo Đỏ là ai?

Biến cố Áo Đỏ vừa qua gây ngạc nhiên lớn đối với hầu hết người ngoại quốc sống ở Thái Lan. Bấy lâu nay họ chỉ biết đến những người Thái hiền hòa, dễ dãi, sống tương nhượng lẫn nhau. Hình ảnh máu đổ trên đường phố Bangkok làm kinh ngạc những người chỉ biết đến nước Thái từ sau tháng Năm Đen 1992, là lần mà những sinh viên trí thức kéo nhau xuống đường chống chính quyền quân nhân. Một số, không ai biết chính xác là bao nhiêu, sinh viên đã biến mất không bao giờ trở lại.

Lần này không phải là trí thức nữa mà là những người dân phía Bắc kéo đến Bangkok để nói lên nỗi bất bình về sự chênh lệch và bất công trong việc phân chia thành quả của phát triển kinh tế và xã hội. Không phải những người Áo Đỏ đi biểu tình đều nghèo. Nhiều người đến bằng xe hơi riêng. Sự chênh lệch lợi tức của người dân Thái thật ra không quá lớn. Nông dân nhiều người có xe hơi, dù chỉ là loại xe tải nhỏ rẻ tiền. Nông dân Thái được bảo vệ hữu hiệu bằng nhiều biện pháp ổn định giá nông sản mà Việt Nam có thể học nếu các quan chức đừng quá tham lam và đòi những khoản lời quá lớn trên mồ hôi nước mắt của người nông dân. Ở Thái không có cảnh được mùa rớt giá như chuyện đầu mùa dưa hấu đang từ 8,000 đồng rồi sau đó rớt xuống chỉ còn 400 đồng (chưa bằng một baht) một ký và dưa thì đổ đầy lề đường cho hư thối.

Người miền Bắc/Đông Bắc kéo đến thủ đô để đòi những quyền lợi chính trị mà Bangkok đã ban phát cho họ quá ít. Chỉ một điều đó thôi cũng đủ thấy, dù quyền lợi kinh tế của người dân Thái không phải là quá tệ, người dân Thái đã có ý thức cao trong việc đòi hỏi quyền dân chủ và bình đẳng cho chính mình.

Tôi tin rồi ra những phe nhóm Thái sẽ ngồi lại và tìm cách thương thảo với nhau để cùng đi đến những giải pháp hòa hợp. Lịch sử cho thấy người Thái rất giỏi trong việc tìm giải pháp tránh những giai đoạn khó khăn, thường là bằng phương cách mềm giẻo không qua xung đột. Cứ mỗi lần vượt qua được một chặng thử thách, nền dân chủ Thái Lan lại vững mạnh thêm một bước.

Ở đây tôi chỉ xin thêm vài nhận xét về việc xử sự của chính quyền cũng như của người dân Thái qua lần xung đột vừa qua:

- Người dân miền Bắc đã chuẩn bị cho cuộc biểu tình này từ rất lâu và kéo xuống Bangkok với số người lớn như vậy mà không gặp sự ngăn cản đáng kể từ phía chính quyền. Dù mới chỉ là một nền dân chủ chưa hoàn thiện, chính phủ Thái đã chấp nhận cho người dân được “mở mồm”.

- Trừ những ngày cuối khi bạo lực được sử dụng quá mức, cuộc biểu tình được tổ chức rất trật tự và ôn hòa. Không có trộm cắp cướp bóc suốt trong thời gian này. Các bữa ăn diễn ra trong trật tự. Thị trưởng Bangkok Sukhumbhand cung cấp nhiều xe vệ sinh di động đậu ở các đầu đường dành cho người biểu tình. Các bệnh viện khám chữa bệnh cho những người biểu tình đau yếu. Dù còn nhiều bất đồng, người dân Thái vẫn giữ tinh thần tương trợ và tôn trọng quyền của người khác. Nếu đừng có sự lũng đoạn của một số thế lực đen từ phía sau, chắc sự thiệt hại về nhân mạng đã không cao như đã xảy ra.

Có mất ổn định không?

Xin thưa rằng không. Dầu rằng số du khách đến Thái đã giảm bớt, việc mua bán bị chậm lại, và nỗi đau của sự mất mát vừa qua còn cần thời gian dài để khắc phục, Thái Lan không hề mất ổn định. Mọi du khách đến Thái những ngày này khó có thể nhận ra sự thay đổi lớn nào trong xã hội Thái, trừ cái khoản tòa nhà Central World bị cháy đen - hiện đã được che chắn - mà chẳng bao lâu nữa sẽ được sửa sang lại.

Đây không phải là một trường hợp mà nhiều người Việt cho là "dân chủ quá cũng khổ" mà chính là một chuyển động quan trọng để hoàn thiện quá trình dân chủ, là một dịp quan trọng để mọi phe phái nhận ra rằng cần phải tôn trọng quyền dân chủ của người khác nữa, thì quyền dân chủ của mình mới được trọn vẹn.

--> Read more..

..



Steps


Flag Counter