Hiển thị các bài đăng có nhãn trithuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trithuc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Câu chuyện trí thức hay là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết

Câu chuyện trí thức hay là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết

Nguồn: baomoi.com

Kichbu post on thứ hai, 30.01.2012

 

 

Bàn về trí thức hay bàn về vai trò của trí thức thực chất cũng chính là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết.

 

“Trí thức và vai trò của trí thức” hay “câu chuyện về trí thức” là một đề tài không mới, nhưng chưa bao giờ cũ. Đây cũng là một đề tài rất phức tạp và dễ gây tranh cãi, nhưng là một đề tài đầy ý nghĩa đối với bất cứ xã hội nào, trong bất cứ thời đại nào. Có rất nhiều góc nhìn khác nhau về trí thức, mỗi góc nhìn lại cho ta một cách hiểu về trí thức và vai trò của trí thức. Nếu ta có được nhiều góc nhìn về một vấn đề thì ta sẽ có cơ hội hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ và sâu sắc hơn, vì khi đó không chỉ thấy “cây”, mà còn thấy “rừng”.


Trong phạm vi bài viết này, từ một góc nhìn, tôi cho rằng, trí thức là người có trí và luôn dùng cái trí của mình để góp phần thức tỉnh xã hội nhằm hướng mọi người đến cái đúng và cái đẹp.

Nếu ai đó “có trí” (sự hiểu biết) nhưng lại “không thức” (không thức tỉnh xã hội) mà để cho xã hội “ngủ” thì bị gọi là “trí ngủ”, chứ không phải là “trí thức”. Nếu ai đó thích làm cái việc của trí thức là “đánh thức xã hội” nhưng lại “thiểu trí”, “lệch trí” hay “vô trí” thì gọi là “trí dỏm” (cũng có học hàm, học vị nhưng đầu óc lại trống rỗng, hoặc cũng có chút hiểu biết nhưng hiểu biết đó lại thể hiện sự lệch lạc và ẫu trĩ). Và nếu ai đó “có trí”, “có thức”, nhưng “thiếu tâm” (thiếu động cơ trong sáng) thì gọi là “trí gian” (gian manh, xu thời, cơ hội). Cả 2 loại “trí dỏm” và “trí gian” đều là “ngụy trí thức”, còn “trí ngủ” là “trí thức vô trách nhiệm”.


 

Có thể hình dung ba điều kiện để hình thành một con người “trí thức”, đó là: (1) “sự hiểu biết” (có trí); (2) “thức tỉnh xã hội”; và (3) “vì mục đích cao quý” (hướng xã hội đến cái đúng và cái đẹp, hướng xã hội đến cái chân-thiện-mỹ). Nếu không hội đủ cả 3 điều kiện này (mà chỉ có 1 hay 2 trong 3 điều kiện) thì hoặc là “trí ngủ”, hoặc là “trí dỏm”, hay “trí gian”, chứ không phải là “trí thức”. Hay nói một cách nôm na, trí thức là người “có Trí”, “có Thức” và “có Tâm” (có 3T).


Từ cách hiểu này, chúng ta có thể thấy rằng, bàn về trí thức hay bàn về vai trò của trí thức thực chất cũng chính là bàn về trách nhiệm xã hội của những người hiểu biết.


Tôi rất thích một câu nói của Einstein “Thế giới này là một nơi nguy hiểm, không phải vì những kẻ xấu xa mà vì những người chỉ biết đứng nhìn và không làm gì cả”. Câu nói này nói về trách nhiệm xã hội (trách nhiệm “làm người”) của một người bình thường đối với cái xã hội hay cái cộng đồng mà mình đang sống. Một người bình thường vô cảm thì đáng phê phán, còn một người có hiểu biết sâu sắc và được lắng nghe mà yên lặng thì còn đáng phê phán hơn. Một người bình thường còn có trách nhiệm xã hội như vậy, đối với những người có hiểu biết thì trách nhiệm xã hội này còn lớn hơn.

Nói cách khác, vai trò của những người có hiểu biết là: dùng sự hiểu biết (và cả uy tín) của mình để góp phần giúp cộng đồng phân định rõ hơn sự đúng-sai, phải trái, chân-giả, thiện-ác, hay-dở, tốt-xấu, nên-không nên… trước những vấn đề chung mà xã hội đã, đang và sẽ gặp phải hay trải qua; dùng sự hiểu biết của mình để truyền bá tinh thần, tư tưởng, quan điểm mà mình tin là cần thiết để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ; dùng sự hiểu biết của mình để góp phần xác lập những chuẩn mực xã hội, những thang giá trị xã hội và đồng thời ra sức bảo vệ những chuẩn mực và giá trị đó; dùng sự hiểu biết của mình để góp phần định hướng, định hình xã hội… Tất nhiên sự phân định, sự truyền bá, sự xác lập hay sự định hướng, định hình này cũng cần phải dựa trên cái nền là những giá trị vượt không gian và vượt thời gian, những giá trị có tính phổ quát của thế giới đương đại hay thế giới tương lai.

 

Và tất nhiên, để thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thì người hiểu biết có thể nói, có thể viết, hay có thể làm gì đó (bởi lẽ không phải tất cả những người hiểu biết đều giỏi nói hay giỏi viết). Vì làm một điều tốt cũng là cách gián tiếp góp phần đấu tranh tiêu diệt cái xấu; làm một điều đúng, cũng là cách gián tiếp góp phần chỉ cho người khác thấy những cái sai…


Thêm nữa, khi nói đến trí thức là nói đến vấn đề “chân lý”. Không ai được phép độc quyền chân lý, nhưng ai cũng được quyền góp phần xác lập chân lý. Giới trí thức thường tự phân biệt giới mình với những giới khác ở chỗ luôn nỗ lực khám phá chân lý, xác lập chân lý và bảo vệ chân lý. Đó cũng là lý do vì sao mà người ta thường nói, chân lý thường không thuộc về số đông hay “kẻ mạnh”, mà thường thuộc về những người có hiểu biết (hay còn gọi là giới trí thức, giới tinh hoa). Nếu chân lý có thuộc về “kẻ mạnh” (nhưng thiếu hiểu biết) thì điều đó chắc chắn cũng chỉ là tạm thời mà thôi.


Khi bàn về trí thức thì người ta thường bàn về vai trò, trách nhiệm, công việc, sứ mệnh, thiên chức của trí thức. Tuy nhiên, cũng cần phải bàn về “điểm mù” của trí thức, dù trí thức có cái trí hơn người. Bởi lẽ, trí thức cũng là con người, mà đã là con người thì cũng sẽ có cái nhầm, có lúc sai mà mình không hề biết; Bởi lẽ, trí thức cho dù có trí thế nào đi nữa thì sự hiểu biết vẫn chỉ là hữu hạn. Điểm mù ở đây được hiểu là “mình không biết cái mà mình không biết” hay “mình cứ tưởng mình hiểu rất rõ một thứ nhưng thực ra mình chẳng hiểu gì cả hay hiểu một cách lệch lạc”. Khi chia sẻ, tranh luận hay góp ý sẽ giúp mỗi người nhìn thấy điểm mù của người và của mình. Khi nhận ra điểm mù của mình cũng là lúc “mình biết rõ cái mà mình không biết”; và khi nhận ra những “cái mà mình không biết” cũng là lúc cảm thấy mình thực sự hiểu biết. Đó cũng là điều kiện để mình có thể hiểu biết thực sự và là cơ hội để đẩy nhận thức và hiểu biết của mình đi xa hơn.


Do vậy, cùng với trách nhiệm “thức tỉnh xã hội” thì trí thức cũng có một trách nhiệm với bản thân là liên tục “phản tỉnh chính mình”, phản tỉnh với những điểm mù (nếu có) của mình. Nếu không liên tục “phản tỉnh chính mình” hay thậm chí là “phản tư chính mình” thì người hiểu biết sẽ dễ trở thành người ít hiểu biết hay người ấu trĩ trong một số vấn đề (kể cả những vấn đề thuộc chuyên môn hay sở trường của mình), và khi đó sẽ không chỉ khó thực hiện được tốt cái vai trò “thức tỉnh xã hội” vốn có của mình, mà còn có thể gây nguy hại cho xã hội.

 

Ở bất cứ xã hội nào thì sứ mệnh của trí thức vẫn thế. Và đối với những xã hội mà trong đó còn đầy rẫy sự bất thường thì một trong những sứ mệnh lớn nhất của trí thức chắc hẳn là góp phần đưa sự bất thường đó trở về sự bình thường. Nói cách khác, trong những xã hội mà sự bất thường của sự việc, sự vô minh của cái đầu, vô cảm của trái tim đang bao trùm thì trách nhiệm của người trí thức, của những người có hiểu biết còn nặng nề hơn (vì có quá nhiều cái cần phải khai sáng, cần phải thức tỉnh) và nguy hiểm hơn (vì không dễ dàng gì để làm cái chuyện khai sáng hay thức tỉnh trong những xã hội này).


Nhưng, đã là người có hiểu biết thì không thể không làm gì cả, bằng cách này hay cách khác, dù nhỏ bé hay lớn lao, dù ồn ào hay lặng lẽ…

Sài Gòn, 25/01/2012

---

 

Sau khi GS. Ngô Bảo Châu chia sẻ ý kiến của mình trên Báo Tuổi trẻ đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau luận bàn về vấn đề thế nào là "trí thức". Tạm gác lại những khía cạnh khác, chỉ xét riêng về khía cạnh trao đổi thuật ngữ thì thấy có hai luồng ý kiến: Người thì đồng tình cho rằng trí thức là lao động trí óc, việc đánh giá là dựa trên kết quả, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội. Người thì phản đối cho rằng trí thức không chỉ là người chú trọng đến chuyên môn hẹp của mình, mà cần phải là một nhà khoa học có lương tri, nhìn thẳng vào thực trạng xã hội, dấn thân vì cộng đồng, phản biện, lên tiếng vì dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.


 

Tôi nghĩ mỗi người vốn dĩ không ai giống ai, từng người tùy theo sức lực, khả năng, sự đam mê mà lựa chọn cách thức, con đường đi riêng cho mình. Những trí thức có cách cống hiến bằng chính kết quả lao động hoặc bằng những hành động cụ thể của mình góp ích cho xã hội thì đã là đáng quí.

Những trí thức mà không những giỏi chuyên môn, ngoài ra còn thể hiện sự cảm thông trước nỗi đau của người dân, dám lên tiếng phản biện, dùng trí của mình để dẫn dắt, thức tỉnh xã hội thì lẽ dĩ nhiên sẽ còn đáng quí hơn. Như vậy, có thể thấy về bản chất giữa các khái niệm "trí thức" hay "trí thức của công chúng" theo tôi không hề có sự mâu thuẫn.


Phản biện xã hội thời nào cũng cần, vì đó chính là tác nhân quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên khi liên hệ với trường hợp Việt Nam cũng nên đặt ngược lại vấn đề liệu dư luận xã hội, thể chế ở Việt Nam đã đủ rộng lượng, đủ khoan dung, luật pháp Việt nam đã đủ thông thoáng để mở đường cho phản biện và tiếp thu phản biện chưa? Cần phải làm gì để cải thiện tình hình hiện nay và cần bắt đầu từ đâu?



Nguyễn Minh Tuấn
NCS Đại học Saarland, CHLB Đức

 

 

Bài liên quan:

 Giáo sư Ngô Bảo Châu, dư luận và tâm lý nhà cầm quyền

--> Read more..

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2010

Tâm tình với các trí thức người Việt ở nước ngoài

thứ tư, ngày 14 tháng bảy năm 2010

TÂM TÌNH VỚI CÁC TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

Bác sĩ Hồ Hải

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề còn đau nhức này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh - lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ, etc họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh - lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ. 

Như vậy thì, có nên tiên trách kỷ, hậu trách nhân không? Một câu hỏi mà mỗi công dân Việt ở nước ngoài cần suy nghĩ.

Dấn thân và Vong thân:dấn thân mới có vong thân và ngược lại, nếu không có vong thân là biết từ bỏ bản ngã, cái tôi của chính mình hay nói cách khác là từ bỏ mình thì làm sao có dấn thân? Cho nên khi đã có ý nghĩ là sẽ về trả nợ núi sông thì buộc lòng cần suy nghĩ đến cặp phạm trù dấn thân và vong thân. Dĩ nhiên, không ai lại từ bỏ tất cả chính mình để vong thân vì một việc không đi với cặp danh - lợi. Cho nên khi đã nghĩ đến trở về thì phải cần một chút, một phần ba, một nữa, hay nhiều hơn nữa là hai phần ba cho việc dấn thân và vong thân. Ta không thể chỉ nghĩ cho cái riêng mình mà quên cái chung trong cuộc quay về. Vì tất cả những người con Việt hay những doanh nhân, trí thức đang sống và đang làm việc với tổ quốc này họ sống được thì tại sao mình không sống được, một khi mình đã xác định các cặp phạm trù: danh lợi, chung riêng và dấn thân vong thân?

Chung và Riêng: Như đã nói ở phần dấn thân và vong thân, khi đã quyết định làm gì chúng ta không thể tách riêng mình một chỗ được. Theo định nghĩa về tâm thần học thì người bình thường là người biết hòa hợp với cộng đồng về cả tư duy và hành động. Ai đi ra khỏi cộng đồng thì người ấy bất thường. Cộng đồng là cái chung, bản thân ta là cái riêng. Cái chung không có khi không có cái riêng cấu thành, và cái riêng phải theo qui luật của cái chung mà tồn tại và phát triển. Ta không đòi hỏi cái chung phải theo cái riêng, nhưng ta có thể cải tạo cái chung đang lỗi thời, lạc hậu trở thành phù hợp và hiện đại, tại sao không? Liệu ta có thể chỉ nói và trách thì cái chung đang tồn tại những bản ngã lạc hậu có thay đổi được gì, hay ta phải xắn tay áo tham gia vào dòng chảy của chung riêng để cải tạo nó là tốt hơn? Thiết nghĩ điều này đã quá rõ ràng, không cần phải nói nhiều.

Đạo và Đời: Tôi cho rằng không đi tu không có nghĩa là không tu. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn há chẳng phải là tu đó sao? Đi tu là làm việc truyền lửa, còn không đi tu, nhưng vẫn giữ được khí tiết trong sạch thì cũng làm làm việc dưỡng đạo, có khác gì nhau? Khác nhau là khác ở chỗ người thì đang học đạo, và người đang hành đạo. Nhưng có một vấn đề ở đây cần làm sáng tỏ là, người đi tu là đang đi học và tìm kiếm danh, dù danh đó người đi tu không màng đến. Còn người vẫn sống với đời thì đang tìm kiếm cả hai, nhưng kiếm làm sao giữ được Đạo - con đường đi kiếm tìm danh và lợi - thật thanh cao. Ấy mới thực là hành đạo vậy.

Thế thì, khi đã nghĩ đến trở về, thì nên nghĩ ta đang làm việc của Đạo hay Đời, Danh hay Lợi, Chung hay Riêng và Dấn thân để được Vong thân hay không cần dấn thân và vong thân. Đó là việc mà mỗi người Việt ở nước ngoài cần suy nghĩ. 

Có thể một số bạn bên ngành triết cho rằng có một số cặp phạm trù tôi nghĩ ra không phải là phạm trù, nhưng với tôi, nước lửa, đàn ông đàn bà, ngày đêm, sáng tối, etc... những cặp nhị nguyên này là những cặp phạm trù mà tôi luôn tâm niệm và suy nghĩ về nó cho tất cả mọi sự vật hiện tượng tồn tại quanh tôi. Xin mượn câu nói nổi tiếng của cố Tổng thống John Fitzgerald Kennedy để kết tâm tình này: "Đừng bảo tổ quốc phải làm gì cho ta, mà phải tự hỏi rằng ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay?"

Hy vọng tâm tình này có ích cho các bạn.

Asia Clinic, 11h49', thứ năm, ngày 15/7/2010

Update: Bài đã được đăng trên Tia Sáng.
 
Các bạn có thể đọc rất nhiều cái còm thú vị theo link dưới đây:
--> Read more..

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Chế độ chuyên chế phương Đông

Chế độ chuyên chế phương Đông

Hà Văn Thịnh – Đại học Khoa học Huế

Lịch sử có những đặc thù kỳ lạ mà có lẽ, dẫu đi hết cả cuộc đời ngắn ngủi của mình, các nhà nghiên cứu hết thế hệ này đến thế hệ khác vẫn không thể nào hiểu hết được. Trong những đặc thù/đặc điểm/đặc trưng ấy, nhà nước chuyên chế là cái nổi bật nhất, tai hoạ nhất và khó “xử lý’ nhất. Xin giới hạn là bài viết này chỉ bàn về nhà nước chuyên chế/chế độ chuyên chế (Authorinianism) của phương Đông tính đến khi Phổ Nghi, vị vua cuối cùng của Trung Hoa thoái vị (12.2.1912); hoặc muộn hơn, khi vua Bảo Đại ở Việt Nam thoái vị (8.1945).

1. Ra đời bên các dòng sông lớn, như Ai Cập cổ đại với sông Nil; Lưỡng Hà với Euphrates và Tigris; Trung Quốc với Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang); Ấn Độ với Indus và Ganges, Việt Nam với sông Hồng, sông Mã, sông Lam… Các nhà nước phương Đông cổ đại đã bị “đẻ non” vì đòi hỏi trị thủy – đắp đê, đào kênh, đo lại ruộng đất sau lũ lụt. Tác hại của việc bị đẻ non là vô cùng lớn vì các nhà nước phương Đông cứ ốm đau, quặt quẹo mãi cho đến tận… bây giờ! Nếu so sánh với Hy Lạp và La Mã – những nhà nước ra đời muộn hơn hàng ngàn năm (thế kỷ VI tr.CN) thì phải giật mình về sự hoàn hảo của chúng. Nhà nước ở phương Tây sinh đúng ngày, ra đúng tháng nên nó đa dạng và dân chủ đến mức khó có thể hình dung nổi. Chẳng hạn, từ hơn 2.000 năm trước đây, ở La Mã đã có sénato – Viện nguyên lão, mà, bây giờ trong tiếng Anh, senate là Thượng nghị viện ở Hoa Kỳ. Kỳ diệu hơn nữa là trong các nhà nước của phương Tây cổ đại, có khi có 2 vua (Rex) và lúc đất nước có chiến tranh thì một vua sẽ được bầu làm độc tài (dictato). Để phân biệt, Rex – dictato đi đâu có đội quân Fascio, mà sau này A. Hitler nói rằng ông ta thích “bạo lực khẩn cấp trong tình trạng chiến tranh” nên mới đề cao “chủ nghĩa fascio” (lâu nay quen gọi là ‘chủ nghĩa phát xít). Trong các nhà nước của phương Tây có 3 nhân vật quan trọng nhất được phản ánh rất rõ trong bộ bài tú lơ khơ là già (King – K), đầm (Queen – Q), bồi (Jury-J) – vua, hoàng hậu và “bồi thẩm đoàn”. Bồi thẩm là một phát minh vĩ đại vì nó vừa là cố vấn cho vua, vừa tham gia giám sát việc xét xử ở tòa án. Đoàn bồi thẩm nếu phủ quyết (nay) thì mọi bản án đều không có giá trị; ngược lại, nếu bỏ phiếu đồng ý (yea) thì bản án mới hợp lệ. Nên nhớ rằng tham gia Jiu ơ ri (Jury), chỉ là dân, loại trừ bất kỳ ai là quan chức của chính quyền.

Quy định này đem đến nền dân chủ tối đa vì người dân được quyền giám sát quan tòa nên ngăn ngừa được sự khuất tất hoặc kém khả năng của các vị điều hành công lý. Mô hình trên đã trở thành các chuẩn mực vẫn tiếp tục được duy trì suốt hàng ngàn năm… Đến đây, chúng ta đã tạm hiểu vì sao văn minh phương Tây dẫu ra đời muộn hơn phương Đông hàng ngàn năm nhưng lại tiến nhanh, tiến vững chắc đến sức mạnh và từ cuối thế kỷ XV, bắt đầu chinh phục cả phương Đông chuyên chế, trì trệ, bảo thủ và thối nát (tính đến thời điểm Christos Columbus tìm ra châu Mỹ vào ngày 12.10.1492)!

2. Tại sao suốt 5.000 năm, ở phương Đông chỉ có một mô hình nhà nước duy nhất là chế độ chuyên chế? Tại sao nó kìm hãm xã hội, nó tạo ra vô số những điều chướng tai gai mắt mà người dân vẫn nhẫn nhục chịu đựng? Bài học của phương Tây thật rõ ràng với các nhà nước cổ đại thật sự dân chủ (cho dù là dân chủ chủ nô đi nữa) cũng không có cảnh hàng vạn người quỳ sụp xuống để tôn vinh sự ngu dốt, không biết gì (trước mặt “Thánh thượng anh minh” 2 tuổi chẳng hạn)? Trung quân – thường là ngu trung, tức là lòng ái quốc đã bị lạm dụng đến mức tối đa. Các vua chúa mặc sức thao túng và tham nhũng hết đời này sang đời khác bởi một lẽ giản đơn: Nền văn minh nông nghiệp lúa nước nhỏ lẻ và manh mún đã triệt tiêu mọi sức đề kháng. Chấp nhận thực tại đắng cay trở thành nguyên tắc của tồn tại. “Đèn nhà ai nhà nấy rạng” là thực tế; còn “tối lửa tắt đèn” có nhau chỉ là những giấc mơ!

Chế độ chuyên chế đã sinh ra, đẻ ra cấu trúc “quyền lực kép” kỳ lạ. “Phép vua thua lệ làng” là nguyên tắc để chính quyền trung ương thao túng tầng vĩ mô (có san sẻ quyền hành, ngầm định), còn “đất có lề quê có thói” là để địa phương tự tung, tự tác (luật bất thành văn). Chính quyền trung ương chỉ cần ở địa phương 3 điều: trung thành, nộp thuế đủ và cung cấp nhân lực khi cần phu phen, binh lính. Còn lại, địa phương mặc sức thao túng. Chính vì thế nên quan mới ra là phụ mẫu chi dân. Các quan địa phương tha hồ quan liêu, tha hồ hành dân miễn là dân chưa kêu nhiều lắm là vẫn còn tốt. Mỗi địa phương là một khoảng trời riêng và đây là tác nhân quan trọng nhất để cho địa phương tuyệt đối trung thành.

3. Lòng trung thành của địa phương được đảm bảo bằng vàng theo đúng nghĩa đen của từ này là tha hồ tham nhũng. Làm sao không trung thành với một nhà nước mà nhà nước đó giống như con gà đẻ trứng vàng, cứ cho mình quyền lượm vàng từ túi của nhân dân? Miễn rằng, đừng ăn dày quá thể, đừng không biết chùi mép, đừng quên chia đều phần bổng lộc cho các quan trên. “Ăn cho đều, kêu cho sọi (sõi)” là câu cách ngôn thấm đậm chất tiền! Vì tham nhũng là đứa con song sinh của chế độ chuyên chế phương Đông nên thời nào, chế độ nào trong lịch sử cũng đầy dẫy sự kiện để chứng minh. Hòa Thân (Hòa Khôn) trong thời của Càn Long (1736 – 1795, sinh 1711, chết 1799) là một dẫn chứng điển hình. Hòa Thân cứ tha hồ tham nhũng (ông là Hoàng đế tham nhũng vô tiền khoáng hậu) vì tài sản của ông ta tương đương GDP 10 năm của Trung Quốc thời đó, kiểm kê 3 năm mới xong. Thế nhưng, Càn Long “tuyệt hảo” vì cứ nuôi Hòa Thân thật béo, lúc nào béo hết cỡ thì làm thịt để tài sản ấy chuyển thành tài sản riêng của con Càn Long. Đọc lịch sử ai cũng biết sau khi Càn Long chết, Hòa Thân bị “làm thịt” ngay tức thì và tịch thu tài sản cho Thanh Nhân Tông Ái Tân Giác La Ngung Diễm – Gia Khánh, hưởng. Xem thế mới biết, nạn tham nhũng trong chế độ chuyên chế chỉ chấm dứt khi vua muốn; còn không, chỉ là tiếng dê kêu rú bụi, truông ngàn. Muốn chấm dứt tham nhũng ư? Nếu thế, lấy ai để trung thành với vua? Làm sao nuôi cả một bộ máy mà đủ thì không đủ, thiếu thường xuyên nhưng vẫn cứ thừa (ai cũng kêu lương không đủ nhưng trong nhà quan chức có đủ thứ)? Chế độ chuyên chế phương Đông mà điển hình nhất là Trung Hoa là “đỉnh cao” của cái nỗi “lạt mềm buộc chặt” (từ của Cố GS Trần Quốc Vượng). Dùng Nho gia để lý tưởng hóa những bậc “quân tử” ăn trên ngồi trốc với những mỹ từ không thể nào đẹp hơn như “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ (do dân, vì dân); dùng Pháp gia để đe dọa, trấn áp (mọi điều khen ngày xưa là ám chỉ chê ngày nay xấu, do vậy, phải chém ngang lưng – Tần Thuỷ Hoàng); dùng Phật gia để ru ngủ (cam chịu để “sau này…” sướng hơn); dùng Danh gia để mua chuộc, dụ dỗ (các loại phiếu “bé ngoan” từ nhỏ cho đến khi chết); dùng Đạo gia để thần thánh hóa vương quyền (vua là thần, là thánh) – tất cả, tạo nên cái “lồng vô hình” nhốt chặt, nhốt dài lâu mọi thần dân trong bụi bặm u mê và nhẫn nhục của lịch sử!

Chế độ chuyên chế sợ cái mới bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến địa vị, quyền thế; không dám thay đổi vì như một vị phù thủy tồi, không thể biết liệu rằng có điều khiển nổi âm binh; e sợ trí thức vì như Lão Tử nói, dân dễ cai trị là loại dân rỗng cái tâm, thiếu cái trí, no cái bụng, ít ỏi cái chí… Tóm lại, chế độ chuyên chế phương Đông trong lịch sử chỉ là chủ nghĩa ích kỷ tối đa, bỏ mặc mọi giá trị xã hội, coi thường vận mệnh đất nước. Giang sơn, xã tắc; thực chất chỉ là quyền lợi của một nhóm nhỏ thiển cận và tàn bạo được giả ngụy thành lý thuyết, đạo đức cao siêu. Quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết, đói cái ăn, cái mặc đã sẵn sàng đánh đổi nhu cầu sống tối thiểu bằng sự im lặng, vẫn còn hơn chẳng có gì! Cái đau đớn của những xã hội phương Đông chuyên chế là ở chỗ: Tầng lớp trí thức còn ích kỷ hơn cả vua – họ ngậm miệng để tung hô cái đảm bảo cuộc sống cho mình; bởi dân ngu khu đen có khổ cũng là chuyện của muôn đời!?

Huế, 7.11.2009

Nguồn: http://bauxitevietnam.info/c/16880.html

--> Read more..

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

"Chúng ta đều phụ thuộc vào nhau"

“Chúng ta đều phụ thuộc vào nhau” 

Kichbu Copy and Post

Tin giáo sư Trịnh Xuân Thuận, người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng cao quý Kalinga của UNESCO về Phổ biến khoa học năm 2009 đã như ngọn gió lành làm nức lòng giới khoa học và tất cả độc giả đã từng yêu quý ông qua những tác phẩm viết về vũ trụ với cái nhìn tinh tế, giàu mỹ cảm, thấm đẫm tư tưởng triết lý của đạo học Phương Đông.

Dù vô cùng bận rộn, từ nước Mỹ xa xôi, ông đã dành hơn hai giờ đồng hồ để trả lời thật cặn kẽ những câu hỏi của báo Sài Gòn Tiếp Thị qua điện thoại. Giọng Hà Nội cổ trầm và ấm áp, lối nói khúc chiết, tình cảm, ông diễn đạt những điều cao siêu và bí ẩn của vũ trụ với một ngôn ngữ thật giản dị. Thỉnh thoảng ông dừng lại, hỏi han về Việt Nam như thể một người thân xa nhà đã lâu. Có cảm giác như ông đang hiện diện, đôi mắt trầm tư và hóm hỉnh, mở lòng chia sẻ với tất cả công chúng bình dị nhất về những gì ông đam mê và day dứt…

- Thưa giáo sư, ông có thể cho cụ thể hơn về Giải thưởng cao quý của UNESCO về Phổ biến khoa học năm 2009? Cảm xúc của riêng ông trong những ngày này?

- Tôi rất hãnh diện, vui mừng, vì đây không chỉ là vinh quang của riêng tôi mà là vinh quang của Việt Nam. Lần đầu tiên trên chính trường quốc tế, người Việt Nam đoạt giải thưởng lớn này, cùng với giáo sư Yash Pal người Ấn Độ. Viết sách, dạy học, khảo cứu là ba công việc mà tôi theo đuổi suốt đời, và coi như lẽ sống của đời mình. Chúng ta đang sống trong một thế giới bị vây bủa bởi kỹ thuật, ngạt thở vì bụi và khói, ít người hiểu rằng chúng ta còn có một vũ trụ bao la, đẹp đẽ và thật hài hòa. Với tư cách là một nhà khoa học, tiếp xúc hàng ngày với vũ trụ, tôi muốn chia sẻ những cảm xúc tuyệt vời về những điều kỳ diệu của vũ trụ. Giải thưởng về Phổ biến khoa học là phần thưởng ý nghĩa nhất cho những tác phẩm mà tôi đã viết để gửi tặng cho tất cả mọi người

- Hầu hết các tác phẩm của ông đều được dịch sang tiếng Việt, trong đó có Những con đường ánh sáng (tác phẩm giúp ông đoạt giải Moron của Viện hàn lâm Pháp năm 2007), ông đã suy nghĩ rất nhiều về ánh sáng và các khía cạnh tinh thần của ánh sáng? Ông đánh giá như thế nào về các bản dịch của dịch giả Phạm Xuân Thiều?

- Ánh sáng là người bạn tri kỉ của tôi, là phương tiện giúp tôi đối thoại với vũ trụ. Thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối của Albert Einstein cũng nói về ánh sáng. Trong tất cả các tôn giáo, ánh sáng đẩy lùi sự không hiểu biết, sự mù quáng. Ánh sáng từ những ngọn nến thắp lên trên bàn thờ Phật đẩy lùi bóng tối, sự huyễn tưởng, tham muốn, đau khổ, để đi đến niết bàn. Ánh sáng từ những cánh cửa nhà thờ chính là ánh sáng của Chúa… Tôi ước ao thám hiểm không chỉ tầm vóc khoa học kỹ thuật, mà còn về thẩm mỹ, nghệ thuật, khía cạnh siêu hình, triết lý tôn giáo của ánh sáng. Ý định của tôi là biết được làm thế nào ánh sáng đã cho phép chúng ta trở thành những con người.

Về dịch giả Phạm Văn Thiều, anh ấy cũng là một nhà vật lý, nên hiểu chính xác các ngôn ngữ chuyên môn. Nhưng viết với tôi không chỉ nói về khoa học, đó còn là một tác phẩm văn chương với cách nói đẹp đẽ, khiến cho người đọc say mê. Anh Thiều đã thực sự cảm được chất triết lý, chất thơ và dịch rất đúng với tinh thần của tôi. Anh cũng đang giúp tôi dịch tác phẩm mới nhất Từ điển về những người yêu trời và ngôi sao do NXB Tri thức xuất bản. Mặc dù sống ở Mỹ, nhưng sách của tôi xuất bản ở Paris là chủ yếu, vì tôi viết bằng tiếng Pháp. Khi tác phẩm trở thành best- seller ở Paris, người ta mới dịch sang tiếng Anh và 20 thứ tiếng khác trên thế giới. Do vậy đối với tôi, chuyện dịch rất quan trọng, ngoài tinh thần khoa học, phải có tinh thần thơ, tinh thần triết lý.

- Tác phẩm Nguồn gốc thể hiện quan niệm của riêng ông khi trở lại với nguồn gốc của vũ trụ, của loài người, để giúp con người thay đổi cách nhìn về cuộc sống, về thế giới?

- Tôi mong muốn giải đáp phần nào những câu hỏi mãi hiện hữu trong tâm trí của nhân loại, đó là nguồn gốc hình thành vũ trụ. Vũ trụ đẻ ra các ngôi sao, từ đó hình thành trái đất, hình thành tế bào đầu tiên của sự sống, sinh ra con người. Tất cả chúng ta đều là con đẻ của các ngôi sao, liên hệ mật thiết với các ngôi sao, đó là ông tổ của loài người. Trái đất cũng được tạo thành bởi các nguyên tố sinh ra trong lòng các ngôi sao. Trong hệ mặt trời, chỉ có trái đất mới có các biển nước bao la để cho sự sống nảy nở. Hiểu như thế để thấy trái đất quý báu biết chừng nào, phải bảo vệ và che chở nó. Nếu không chỉ mấy thế hệ nữa thôi con cháu ta sẽ không còn chỗ để ở nữa, vì trái đất ngày càng nóng lên. Mỗi 100 năm trái đất nóng lên từ 1 đến 2 độ, băng ở Nam cực và Bắc cực đã tan chảy, khiến lụt bão càng ngày càng nhiều, hoành hành ngày càng dữ dội. Hiện giờ 25% cacbon dioxit (CO2) thải ra trong khí quyển trái đất là từ nước Mỹ, 25% là từ Trung Quốc. Thời của Bush, nước Mỹ không chịu ký hiệp định Kyoto năm 1997 về chống khí thải. Chính sách của ông Obama có tiến bộ hơn, tháng 12 này Mỹ và các nước sẽ họp lại ở Copenhagen, Đan Mach để tìm giải pháp giảm khí thải trên toàn thế giới. Với tư cách nhà khoa học, tôi chỉ nói lên lời cảnh báo, còn người định đoạt là các nhà chính trị. Tôi mong khi các cường quốc có trách nhiệm hơn, sẽ cải thiện được tình hình, vì trái đất là của chung mọi người.

Biết rằng tất cả chúng ta chỉ là những hạt bụi, chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với loài linh dương và các đóa hồng, chúng ta được gắn kết với nhau qua không gian và thời gian, sẽ giúp chúng ta ý thức được sự phụ thuộc vào những người khác. Ý thức này sẽ sinh ra lòng trắc ẩn, giúp chúng ta nhìn thế giới khác đi và hành động công bằng hơn.

- Với riêng Việt Nam, ông có nghiên cứu nhiều về thảm họa tàn phá môi trường trong sự thái quá về phát triển kinh tế hiện nay hay không?

- Tôi cũng rất lo sợ. Tôi hiểu Việt Nam muốn phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, không còn cách nào khác là phải phát triển du lịch, vì Việt Nam có một thiên nhiên rất đẹp, có núi, có biển, có rừng. Nhưng phát triển du lịch phải nghĩ đến bảo vệ môi trường xung quanh, chứ kiểu phá rừng bừa bãi, giết chết thú vật và tất cả những sinh vật thiên nhiên như chim chóc,muông thú như hiện nay vô cùng nguy hiểm. Rừng của chúng ta có rất nhiều loài chim lạ mà các nhà khoa học quan tâm và đã đến khảo cứu, nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Những nhà lãnh đạo đất nước phải quan tâm đến việc phát triển kinh tế trong sự tôn trọng môi trường

- Từng học tại Thụy Sĩ, lý do gì khiến ông chọn nước Mỹ là nơi dừng chân? Ấn tượng nhất với ông về cách dạy, cách học của hệ thống đại học đỉnh cao của Mỹ?

- Đậu tú tài năm 1966, tôi định đến Pháp để học vật lý, nhưng bài diễn văn của tướng De Gaulle ở Phnom Penh đòi Mỹ rút quân ngay lập tức khỏi Đông Nam Á đã làm thay đổi mọi kế hoạch của tôi. Việt Nam cắt đứt liên hệ ngoại giao với Pháp nên tôi không thể sang Paris học nữa.  Sau một năm học ở Lausanne, Thụy Sĩ, tôi sang Mỹ học tại Caltech (viện Công nghệ Califonia ), "thánh địa" của các nhà vật lý thiên văn. Caltech có kính thiên văn lớn nhất thế giới vào lúc đó, có thể nhìn về quá khứ hàng tỉ năm, một nơi lý tưởng để nảy sinh thiên hướng cho một thanh niên 19 tuổi đang khát khao tìm hiểu mọi thứ như tôi. Xúc động lắm khi được những giáo sư dạy những công trình của chính họ.

Lớp không quá  mười lăm người nên  được tiếp xúc thật gần với từng giáo sư, cả  những vị nổi danh nhất từng đoạt giải Nobel. Giáo dục quan trọng nhất là dạy cách nghĩ khác biệt trước một vấn đề, giúp cho người học đi xa hơn chính người thầy của mình trong quá khứ. Thế là  tôi đổi thay. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi thấy Richard  Feynman, một trong những đỉnh cao của ngành Vật lý hiện đại, trả lời một cách kiên nhẫn từng câu hỏi của những cậu bé mười chín tuổi như tôi. Ông tranh luận và  pha trò với chúng tôi. Ông  luôn  nhìn  thiên  nhiên  bằng  đôi mắt mới lạ, ngây thơ, diễn dịch lại theo cách của riêng ông. Ông không hề đi theo con đường mòn và luôn đặt lại câu hỏi cho những ý tưởng đã được công nhận. Ðó là chưa kể sự tự do lạ thường mà chúng tôi có được. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy sinh viên đi chân trần, ăn mặc lôi thôi đến dự giờ do một Nobel giảng dạy! Sau chấn động đó, tôi bắt đầu thích môi trường quá phong phú cho sự nảy nở tài năng của mỗi người, bất kể  hình thức hay tầng lớp xã hội. Đặc ân tối cao là chúng tôi có thể gõ bất cứ cửa nào và bất cứ lúc nào, tất cả những đầu óc vĩ  đại đó sẽ thong thả trả lời  cho chúng tôi từng câu hỏi.

- Trong sự chọn lựa của ông đối với thiên văn học, ông đã phải trả giá cho những mất mát, khó khăn như thế nào của đời sống thường ngày? Theo ông, vì sao lớp trẻ ngày nay ít người dám theo đuổi những khát vọng lớn như thế hệ ông?

- Sống ở Mỹ từ năm 19 tuổi đến giờ đã hơn 42 năm, nhưng do học tiếng Pháp từ bé nên tiếng Pháp đối với tôi là tiếng của thơ ca, còn những gì thuộc về khoa học tôi viết bằng tiếng Anh. Những năm đầu sống trên đất Mỹ rất khó khăn, vì lúc ấy chiến tranh Việt Nam đang vào thời kỳ ác liệt nhất, nhiều người bạn Mỹ của tôi ở trong trường đã phải vào quân ngũ để sang Việt Nam. Không biết tiếng Anh, những ngày đầu tiên thầy giáo vật lý giảng bài tôi chẳng hiểu gì, chỉ nhận ra mấy cái phương trình. Mấy tháng sau mới tiếp thu được tiếng Anh nhanh hơn. Thực sự tôi phải trả giá rất nhiều cho việc học, khó nhất là làm thế nào để hòa mình vào môi trường khoa học trình độ cao. Lúc đầu bị cắt hết liên lạc gia đình, đâu có tiền mà về thăm nhà. Lúc đó chưa có e-mail hoặc internet. Xa gia đình, xa đất nước mình, thiếu chỗ nương tựa tinh thần, văn hóa lại khác hẳn nên rất gian nan. Phải có ý chí, đam mê nhiều lắm, nhất là sự ham thích tìm hiểu, nghĩ ngợi, hân hoan với mỗi phát hiện mới của riêng mình, chứ nếu chỉ nghĩ đến tiền và làm giàu thì không thể làm khoa học được.

Thế hệ chúng tôi già rồi, nên rất mong có những thế hệ kế tiếp, nhưng hình như các bạn trẻ ngày nay theo đuổi những nghề nghiệp giúp họ kiếm tiền nhanh như kinh doanh, bác sĩ, luật sư… hơn là về khoa học. Trách nhiệm của những nhà giáo dục là phải truyền đạt tới lớp trẻ tình yêu khoa học. Chính vì vậy mà tôi đẻ ra môn Thiên văn học dành cho các nhà thơ, để dành cho những sinh viên học các môn học khác như kinh tế học, triết học, văn học…Tôi rất thú vị khi thấy các em rất say mê môn học này, và thích thú nhìn lên bầu trời, quan sát các ngôi sao.

- Sau ngày miền Nam được giải phóng, cha ông (Trịnh Xuân Ngạn- KY) phải đi học tập cải tạo vì là chủ tịch Tối cao Pháp viện chế độ Sài Gòn, nghe nói ông đã viết thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng để xin cho cha được về?

- Khi ấy, tôi tưởng không thể gặp lại bố được nữa. Lúc ấy Mỹ không có bang giao với Việt Nam. Không biết làm gì để cứu bố, tôi sang Pháp gặp một đồng nghiệp về vật lý thiên văn, rất may ông là bạn thân của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông ấy đã viết một bức thư gửi Thủ tướng xin tự do cho cha tôi, nhưng tôi cũng không dám hy vọng gì nhiều. Không ngờ Thủ tướng đã tác động ngay cho bố tôi được sang Pháp sinh sống cùng gia đình.

- Đối diện với vũ trụ bao la, có bao giờ ông rơi vào cảm giác quá bé nhỏ, tuyệt vọng, cô đơn…?

- Tôi luôn cảm thấy hài hòa một cách tự nhiên với vũ trụ, nên không bao giờ cảm thấy cô đơn. Vả lại tôi luôn có những người thân yêu ở bên cạnh nâng đỡ, động viên. Cha tôi giờ đã mất, nhưng ông là một tấm gương lớn cho tôi về tinh thần học hỏi không ngừng. Ông luôn khuyến khích tôi trên con đường khoa học, dạy tôi trước tiên phải trở thành người lương thiện, biết thương người khác. Tôi may mắn có người vợ hết lòng, cô ấy cũng dạy học như tôi, nhưng biết lo lắng chuyện nhà chuyện cửa để tôi yên tâm nghiên cứu. Trong gia đình lớn của tôi, sự gắn bó từ đời này sang đời khác rất được coi trọng, gìn giữ. Dòng họ nhà tôi nhiều người đỗ đạt tiến sĩ, làm quan lớn trong triều. Học hỏi, khảo cứu và giúp người là truyền thống quý báu nhất của dòng họ. Tôi viết sách, dạy học, khảo cứu cũng là để tiếp nối truyền thống đó.

Trong chuyến trở về Việt Nam cùng phái đoàn của Tổng thống Pháp Mitterrand năm 1993, đến Văn Miếu ở Hà Nội, tôi rất hãnh diện khi thấy ông tổ của mình cũng có tên trong đó. Lúc đó, mức sống ở miền Bắc còn quá thấp so với miền Nam, nhiều chỗ không có điện nước. Năm 2004, trở lại ngôi làng thời ấu thơ bên kia sông Đuống, thăm lại mồ mả cha ông, tôi vô cùng xúc động khi thấy tất cả sức lực của đất nước được dồn cho xây dựng, mức sống của người dân quê tôi đã được nâng lên đáng kể…Tất cả những điều đó níu giữ mình, giúp mình cảm thấy không cô đơn, thấy có trách nhiệm hơn với cuộc đời và xã hội..

- Là nhà khoa học, có bao giờ ông tin vào trực giác, sự mách bảo của tâm linh?

- Thường khi nghĩ nhiều về một vấn đề nào đó của vũ trụ, trực giác luôn đến với tôi đầu tiên, sau đó mới là những luận cứ khoa học. Cũng có khi trực giác và luận cứ khoa học đến cùng một lúc. Điều kỳ diệu đâu phải tự nhiên mà có, mình phải đeo đuổi nó nhiều lắm, tìm hiểu nhiều lắm qua kính thiên văn và suy nghĩ, rồi mới phát hiện ra. Lúc ấy thấy hân hoan lắm.

- Là người rất quan tâm đến đời sống xã hội, ông nghĩ gì về sự đổ vỡ trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, khi lao theo những ham muốn bất tận về đời sống vật chất đến mức không dừng lại được?

- Khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua là bằng chứng rõ nhất về chuyện con người quá lao theo vật chất, mà quên đi những giá trị tinh thần. Con người cần phải nghĩ nhiều hơn về hạnh phúc. Làm giàu là cần thiết, nhưng đến một mức độ nào thôi cũng phải biết hướng tới những giá trị truyền thống của đời sống nhân văn, biểu hiện qua tôn giáo. Toàn thế giới đang chạy theo chỉ số GDP, nhưng ở Bhutan, đất nước theo đạo Phật, chỉ số hạnh phúc lại cao nhất thế giới. Họ có nền an ninh sung sướng mặc dù nghèo hơn rất nhiều nước khác. Giàu đến một mức nào đó thôi cũng phải nghĩ cách giúp đỡ người khác, như Bill Gates, người đã tạo ra hãng Microsoft chẳng hạn. Chứ sống một mình sung sướng trên một biển toàn người đau khổ thì đâu có hạnh phúc gì. Chúng ta phụ thuộc vào nhau, điều cụ thể nhất mà mỗi gia đình có thể làm được là các bậc cha mẹ hãy giáo dục cho con cái mình đừng nên chạy theo vật chất, biết nghĩ nhiều hơn cho người khác thì cuộc sống của mình sẽ ý nghĩa hơn

- Để tồn tại, cạnh tranh và sống sót trong một thế giới đầy bất an như hiện nay, theo ông, con người phải thay đổi điều gì trong tư duy và lối sống của chính mình?

-Tôi sống ở đất Mỹ, nơi lúc nào cũng nói đến chữ cạnh tranh. Nhưng chữ cạnh tranh mà ông Obama dùng khác hẳn chữ cạnh tranh của ông Bush. Cạnh tranh với Obama là để chung sống hòa bình, chứ không phải gây chiến như Bush. Có lẽ nhờ thế ông đã đoạt giải Nobel Hòa bình 2009 dù chưa làm được gì, nhưng đã thay đổi hoàn toàn trong cách nghĩ, để mong giúp đỡ con người. Toàn cầu hóa hòa bình là mục đích của cạnh tranh lành mạnh, để cùng phát triển, chứ không phải bám vào việc đào bới thiên nhiên, hủy hoại đất mẹ. Sự sụp đổ hàng loạt các tập đoàn tài chính Mỹ đang bị siết lại bằng luật, nhưng điều cốt lõi là phải thay đổi là cách nghĩ, thay đổi trong tâm,. Chính vì thế phải có tôn giáo. Đạo Phật dạy tiền bạc, vật chất là ảo hết, tình thương yêu, giúp đỡ người khác mới là sự thật, đó mới là sức mạnh của con người.

- Mối tương đồng giữa vật lý hiện đại với đạo học phương Đông, nhất là Phật giáo đã mở cho ông những cánh cửa như thế nào để thấy được bộ mặt thật của vật chất?

- Tôi chiêm nghiệm thế giới theo triết lý Phật giáo nhưng với cái nhìn của nhà khoa học vật lý hiện đại và đạo học phương Đông là hai cách nhìn về cùng một sự vật, đó là vũ trụ. Hai lối nghĩ tả về một cái thì phải gặp gỡ nhau thôi. Nếu như tôn giáo giúp mình nhìn ra sự thật về vũ trụ để sống, để nhìn đời hoàn hảo hơn thì vật lý hiện đại giúp mình dùng thiên nhiên để chế tạo ra những công trình kỹ thuật, khoa học. Phật giáo rất vững vàng để đương đầu với khoa học. Nhà khoa học làm những cuộc quan sát, thí nghiệm. Trong Phật giáo, con người tự thí nghiệm lấy chính mình. Họ tự tìm lấy con đường của  họ. Trong đạo Phật, người ta tìm thấy khái niệm vô thường: tất cả đều chuyển động, tất cả đều thay đổi, tất cả đều tiến hóa, thì đó cũng là thông điệp chính của khoa học. Các ngôi sao đều có lịch sử riêng của chúng: chúng sinh ra, sống và chết. Vũ trụ có một sự khai nguyên, một hiện tại và một tương lai. Tất cả đều thay đổi, tất cả đều chuyển động.

Tôi cũng đang tìm hiểu thêm về Lão tử để soi rọi nó với đạo Phật, phát hiện thêm những chiều sâu mà mình chưa biết đến. Đó là cuộc tìm kiếm vô cùng. Cho đến nay, con người có thể nhìn thấy chỉ chiếm 4% trong tổng số vật chất trong vũ trụ. Như vậy, rõ ràng, còn quá nhiều thứ, đến 96%, để chúng ta học hỏi và khám phá. Tôi tin rằng ý thức con người đủ sức mạnh để khám phá phần còn lại mênh mông và huyền bí đó

- Đầu tháng 10/2009, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã quyết định trao Giải thưởng Kalinga 2009 cho giáo sư Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt hàng đầu thế giới. Đây là giải thưởng quốc tế nhằm tôn vinh nỗ lực của những nhà nghiên cứu có nhiều thành công trong việc phổ biến kiến thức khoa học đến công chúng, cải thiện phúc lợi công cộng và làm giàu có thêm di sản văn hóa của các dân tộc và những giải pháp cho các vấn đề của nhân loại.  Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào ngày 5/11 trong thời gian diễn ra Diễn đàn Khoa học Thế giới, tại thủ đô Budapest (Hungary).

- Giáo sư Trịnh Xuân Thuận không chỉ nổi tiếng là nhà vật lý thiên văn có nhiều công trình nghiên cứu về vũ trụ gây tiếng vang lớn. Ông còn là nhà văn, nhà thơ, một triết gia, một Phật tử và nhà hoạt động cho môi trường và hòa bình. Khoa học đối với ông không chỉ dành riêng cho những nhà thông thái, mà luôn nhắm tới công chúng bình dị. Những tác phẩm best-seller của ông như Những con đường ánh sáng, Giai điệu bí ẩn, Hỗn độn và hài hòa, Cái vô hạn  trong lòng bàn tay, Lượng tử và hoa sen, Nguồn gốc…đã được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới

- Theo ông, sự gặp gỡ giữa nhận thức luận phương Tây và triết lý phương Đông có giúp con người thoát khỏi những khủng hoảng cá nhân?

- Tôi nghĩ triết lý phương Tây để ý đến cá nhân nhiều hơn, trong khi phương Đông lại có lối nhìn toàn vẹn hơn. Khi những luồng tư tưởng khác biệt gặp nhau, tác động lên nhau, có thể giúp con người vượt thoát khỏi sự khủng hoảng trong đời sống tinh thần, tìm đến một chủ nghĩa nhân văn phổ quát, để vừa thúc đẩy tính sáng tạo trong mỗi cá nhân, vừa giúp mỗi cá nhân hài hòa hơn với xã hội, gìn giữ mối quan hệ gia đình. Hiện có rất nhiều người Âu châu để ý đến đạo Phật vì tinh thần gần gũi, rộng rãi của nó.

- Ông có thể kể một chút về tình bạn với Ricard Matthieu, người đã ảnh hưởng rất lớn đến ông trên con đường trở thành một Phật tử tự do, và viết chung tác phẩm Cái vô tận trong lòng bàn tay?

-  Matthieu Ricard vốn là một tiến sĩ sinh học người Pháp đã bỏ hết sự nghiệp đi tu, vì cho rằng việc khảo cứu không làm cho đời mình hạnh phúc. Ông trở thành một thiền sư Phật giáo Tây Tạng, và là người rất thân cận với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi Đạt Lai Lạt Ma sang Pháp luôn có ông bên cạnh. Ông nổi tiếng ở châu Âu về truyền bá đạo Phật, cách tu tâm, thiền. Ông sống rất đúng theo triết lý của đạo Phật, luôn đỡ người khác, bao nhiều tiến viết sách ông dành để xây làng cho trẻ mồ côi ở Tây Tạng, và làm từ thiện. Mùa hè năm 1997, tôi và nhà sư Matthieu tình cờ gặp nhau tại một hội thảo ở nước Andorra, nhỏ nhất thế giới. Trong chuyến du hành lên núi Pyrenee ở nước đó, chúng tôi đã trở thành bạn thân, thảo luận với nhau về những vấn đề cốt tử của khoa học và tôn giáo. Tôi đã lớn lên hơn với triết lý cho rằng con người không hiện hữu trong cô đơn và cô lập. Tất cả đều là một thành phần của tổng thể.

- Ông nghĩ gì về vai trò của người trí thức trong sự phát triển của đất nước? Theo ông làm thế nào để có được những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực khoa học, thiên văn, nhất là khoa học xã hội nhân văn? Nỗi đau nào ám ảnh ông khi về thăm lại quê hương?

- Với riêng tôi, cách giúp đỡ tốt nhất là mang những tác phẩm của mình đến với công chúng Việt Nam, để gầy dựng tình yêu khoa học cho những thế hệ sinh viên trẻ, và tham gia giảng dạy cho những sinh viên ưu tú của đại học Việt Nam. Còn chuyện khảo cứu thì quá thiếu phương tiện. Tôi mong khi đất nước phát triển, Việt Nam sẽ thu hút được chất xám của những chuyên gia người Việt đã được đào tạo tại Mỹ và châu Âu về giảng dạy như Trung Quốc bây giờ. Hệ thống đại học đỉnh cao của Trung Quốc hiện nay chất lượng đào tạo ngang hàng với Mỹ chính vì đã biết đầu tư để thu hút chất xám về nước, nhờ vậy họ tiến rất nhanh. Muốn vậy, phải có một chính sách đúng từ chính phủ. Chỉ lo đầu tư cho đường sá, cầu cống, để tham nhũng hoành hành như hiện nay  rất nguy hiểm. Các nhà lãnh đạo phải hiểu đầu tư cho giáo dục, khảo cứu là đầu tư cho tương lai của đất nước. Điều tôi mong muốn nhất của tôi là một ngày kia nước mình sẽ có đài thiên văn, có người làm thiên văn. Khoa học phát triển mới có thể phát triển căn cơ về kinh tế

- Cho đến bây giờ, ông đã thực sự tìm thấy sự bình yên?

- Cũng nhờ Trời Phật phù hộ mà ngay từ nhỏ tôi đã biết mình muốn gì, đó là theo đuổi đam mê làm khoa học, chứ không bị lang bang sang các ham muốn khác. Biết làm điều  mình thích nên không bị khổ. Giây phút hạnh phúc nhất với tôi là khi khám phá ra một điều mới lạ. Đạo Phật lúc nào cũng ở trong tôi, giúp tôi sống thanh thản hơn.

- Phương châm sống của riêng ông?

- Làm gì cũng ráng làm hết sức, sinh sống không làm hại người khác, giúp được ai thì giúp hết lòng.

Kim Yến thực hiện
chân dung hội hoạ
Hoàng Tường

Ý kiến về Trịnh Xuân Thuận

- Nhà vật lý Nguyễn Xuân Xanh: 

 « Chúng tôi xin nhiệt liệt chúc mừng anh Thuận. Tin này làm phân chấn cộng đồng Việt Nam nói chung, và giới khoa học Việt Nam trong và ngoài nước nói riêng. Khoa học tại VN chắc chắn sẽ nhận được một "cú hích" tốt cho sự phát triển. Thanh niên và cộng đồng sẽ hướng nhiều hơn nữa về khoa học, điều cần thiết để phát triển trí tuệ. Câu nói của Voltaire về Galilei: “"Triết lý đích thực đã không bắt đầu khai sáng con người cho đến khi cuối thế kỷ mười sáu. Galilei là người đầu tiên đã làm cho vật lý học nói lên được ngôn ngữ của sự thật và lý tính", cho thấy vai trò lớn lao của khoa học trong đóng góp phát triển trí tuệ, lý tính của con người, đặc biệt trong một nước có những đặc thù khó khăn như VN. Cuốn Kỷ yếu thiên văn và Darwin năm nay ra đời đúng lúc anh đón nhận tin vui.  Xin cám ơn những đóng góp rất có ý nghĩa của anh Thuận.

- Trần Tiễn Cao Đăng:

“Những cuốn sách của Trịnh Xuân Thuận cho thấy một bộ phận tinh hoa các nhà khoa học trên thế giới không còn hài lòng với việc làm nhà khoa học "thuần tuý". Họ vươn lên một thứ "bản thể luận về khoa học và tri thức", mà trong đó mọi ngành khoa học, cả tự nhiên lẫn nhân văn, và cả nghệ thuật, đều là những thành tố không thể tách rời của một cái toàn thể bất phân. Đó cũng lại là hậu hiện đại: Không còn sự chia cắt đầy võ đoán giữa một đằng là khoa học, một đằng là nghệ thuật, một đằng là tôn giáo. Không thấy sự phân chia giữa những thứ đó, mà cảm nhận nó như một toàn thể. Văn chương cũng có thể vậy, cần phải vậy.

-  Dịch giả, nhà vật lý Phạm Văn Thiều:

“ Ấn tượng mạnh nhất của tôi là trước khi khép lại Nguồn gốc, tác giả đã dụng ý đặt bức ảnh lớn về một nhà sư ngồi thiền trước một vườn cát mênh mông Daisen-in, xây dựng đầu thế kỷ XVI, trong quần thể các đền Daitoku-ji ở Kyoto, Nhật Bản. Khu vườn dành cho nhà sư thiền định nhìn vào một khoảng trống ngang dọc những chuyển động sâu xa, mà chỉ những gợn sóng trên bề mặt của cát gợi ra. Cát trắng được cào hằng ngày và được vun thành 3 đống, trong đó một đống không bao giờ nhìn thấy được, bất kể vị trí của người ngồi chiêm nghiệm.

Cuộc sống hiện đại với rất nhiều sức ép của nó đã khiến đa số chúng ta mải mê theo đuổi những tham vọng trần tục, chẳng còn thì giờ đâu để suy ngẫm về chính bản thân mình cũng như nguồn gốc của mình. Bức ảnh đó dường như nhắc nhở chúng ta nên nhớ rằng con người là báu vật mà tự nhiên đã biết bao khó nhọc mới tạo được ra nhưng cũng rất nhỏ nhoi trong khoảng mênh mông vô tận của vũ trụ. Hãy dành thời gian để suy ngẫm, để sống nhân ái và bao dung với đồng loại để xứng đáng với ân huệ to lớn mà tự nhiên đã ban tặng chúng ta”

--> Read more..

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2009

Đôi lời về văn hóa sống với du sinh Việt Nam ở Mỹ

ĐÔI LỜI VỀ VĂN HÓA SỐNG VỚI DU SINH VIỆT NAM Ở MỸ

BS Hồ Hải

Kichbu Copy and Post


Nhân câu chuyện du học sinh Hồ Quang Phương bị cảnh sát Mỹ đánh đập dã man và sự việc lên án của báo chí Việt Nam. Cũng như cháu Hồ Quang Phương nhờ luật sư để kiện ra ra tòa 4 cảnh sát Mỹ tham gia vào cuộc đánh. Với vốn hiểu biết nhỏ nhoi của mình tôi xin gửi đến các du sinh, đặc biệt, các du sinh Việt sang Mỹ ở tuổi trưởng thành một số hiểu biết của mình về văn hóa đối xử với cảnh sát Mỹ. Ngõ hầu sự việc đáng tiếc này không còn xảy ra nữa.

Văn hóa Mỹ là văn hóa du mục, duy lý. Khác với văn hóa Việt là văn hóa nông nghiệp, duy tình. Cách sống, quan hệ xã hội và pháp luật ở Mỹ không như ở Việt Nam. Nước Mỹ là nước tự do và dân chủ ai cũng rõ. Họ tự do vì họ là những con người ra đi từ những vùng miền chịu sự đàn áp của lề thói cũ, tụ hội về Mỹ để làm một xã hội mới theo tư tưởng phóng khoáng như tuyên ngôn độc lập mà họ ra viết năm 1776. Một tuyên ngôn độc lập mà có thể xem là hoàn hảo nhất nhân loại, đến nỗi cụ Hồ cũng phải vay mượn nó để viết bài
tuyên ngôn độc lập cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Họ tự do vì ở đó giống như con người và mãnh đất miền Nam Việt Nam mà tôi đã viết trong bài 300 năm xây và 30 năm phá. Thậm chí, họ còn có luật dùng súng. Chính vì thế, cảnh sát Mỹ phải chịu nhiều áp lực của những băng cướp có súng lớn, súng nhỏ, thậm chí cả bom. Và luật pháp Mỹ cũng cho cảnh sát có rất nhiều quyền. Họ cũng rất mạnh tay với tội phạm và ai bị tình nghi là tội phạm khi cần thiết. Cho nên bạn cần phải tôn trọng cảnh sát, không nên chống cự và cãi lại họ. Nếu muốn gì bạn có thể chờ khi ra tòa, còn chống và cãi lại họ, nguy hiểm sẽ đến với bạn là chuyện đương nhiên. Một câu nói mà nếu ai đã từng xem phim hình sự Mỹ thường thấy dịch ra: "Bạn có quyền giữ yên lặng. Mọi lời nói của bạn đều là bằng chứng trước tòa án". Chỉ lời nói thôi, không cần hành động sai đều là bằng chứng chống lại bạn trước tòa. Câu nói này thể hiện tất cả những gì tôi đã nói ở trên và sau đây.

Khi bạn đi xe phạm luật bạn nên vui vẻ nhận giấy phạt, không được đôi co hay chống đối. Và lúc nào trên khuôn mặt bạn cũng phải tươi cười với những câu nói: "Yes, Sir" hoặc "No, Sir". Nếu bạn thấy không công bằng thì hãy đợi đến ngày ra tòa. Nếu bạn đi xe bị chặn lại vào ban đêm. Bạn phải giảm tốc độ, bật đèn khẩn cấp. Bật sáng hết toàn bộ đèn trong xe. Báo cho cảnh sát biết là bạn đang chọn chỗ đậu có đèn sáng, hạ cửa kiếng xuống, nhưng không được ra khỏi xe và 2 tay phải để trên tay lái, chờ cảnh sát đến. Không nên rời tay khỏi tay lái trước khi cảnh sát yêu cầu bạn làm bất cứ chuyện gì. Vì ngược lại như thế bạn sẽ bị cảnh sát nghi ngờ rút súng bắn cảnh sát. Bạn nên hỏi cảnh sát trước là họ yêu cầu gì? bằng lái xe, thẻ bảo hiểm xe ... Chỉ được bước ra khỏi xe khi họ yêu cầu. Và phải làm tất cả những gì họ yêu cầu như: đưa 2 tay ra sau gáy, dạng chân thậm chí đưa tay vào còng mà không được phản kháng. Nếu không có vấn đề gì bạn sẽ được thả ra sau đó. Nhưng nếu bạn làm sai những gì tôi đã nói ở trên thì bạn có thể mất mạng. Dĩ nhiên, nếu cảnh sát bắn bạn vô lý, họ sẽ ở tù. Nhưng chờ họ ở tù thì bạn đã mất mạng vì không hiểu luật và văn hóa sống của Mỹ.

Không được uống chất có cồn khi lái xe. Nếu bạn bị tội này thì nếu bạn đã có thẻ xanh chờ vào quốc tịch thì bạn cũng bị trục xuất về Việt Nam. Tội này gọi là tội DWI (Driving while intoxicaed). Không nên cho ai đi nhờ. Dù bạn thấy một người đang hư xe dọc đường họ đón lại. Bạn chỉ có thể giúp họ kêu xe cứu hộ, chứ không nên cho đi hộ, ngoại trừ người quen biết. Nếu không bạn có thể bị cướp. Nếu bạn thấy 1 cô gái xinh đẹp đi trên đường dưới trời mưa hoặc nắng chang chang, bạn cũng không nên cho cô ta đi nhờ. Vì cô ta có thể sẽ tố cáo bạn là quấy rối tình dục.

Không nên quan hệ tình dục với bạn gái dưới 18 tuổi. Ngoại trừ bản thân bạn dưới 18 tuổi thì không sao. Nhưng, nếu bạn lớn hơn 18 tuổi mà quan hệ trẻ gái dưới 18 tuổi, dù bạn gái đó yêu cầu thì bạn cũng có thể mang tội hãm hiếp trẻ vị thành niên. Tội này thì xem như bạn vứt cuộc đời bạn xuống bùn khi bạn còn sống trên đất Mỹ. Dù bạn quan có quan hệ với bạn gái 18 tuổi, nhưng khi bạn gái đó nói "No" sau khi đã lột quần áo, thì bạn cũng phải ngưng ngay. Nếu không bạn sẽ bị tội "date rape". Tội date rape cũng nặng không thua gì bất kỳ tội hãm hiếp nào. Đừng bao giờ có suy nghĩ như ở Việt Nam là cô ta giả bộ, cứ tiến tới sẽ thành công. Nguy hiểm đấy.

Không nên thấy trẻ con Mỹ dễ thương (trẻ con Mỹ thì hầu hết đẹp như thiên thần) mà cho kẹo, bánh khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ nó. Dù là con cháu của bạn. Không nên nựng trẻ con kiểu như ở Việt Nam là sờ ti bé. Làm như thế bạn sẽ bị kiện là xâm phạm tình dục trẻ em (child molesting) ở tù rất nặng.

Bạn không được hăm dọa bất kỳ ai bằng lời nói hay hành động, nhất là đối với dân bản xứ. Nói dong dài để rồi cuối cùng quay về vấn đề cháu Hồ Quang Phương. Sở dĩ cháu Phương bị gọi 119 là vì cháu đã dọa giết sinh viên Mỹ bản xứ bằng lời: "Nếu mà còn ở quê nhà tao thì tao đã giết mày rồi." Khi cảnh sát đến, Phương không tuân theo yêu cầu cảnh sát mà cứ đi theo cảnh sát. Nên cảnh sát nghi ngờ Phương sẽ tấn công cảnh sát. Nên cảnh sát phải tự vệ vì điều đó. Chưa hết cảnh sát còn nói là
Phương đã chống cự lại cảnh sát.

Câu chuyện không biết ai đúng, ai sai? Còn phải chờ điều tra rõ ràng. Nhưng trước đó, Phương cũng đã bị ăn đòn nhừ tử vì thiếu hiểu biết. Vấn đề còn lại là làm sao để Phương thắng kiện? Một người quen của tôi, sống ở Mỹ trên 30 năm, chưa thấy một luật sư người Việt Nam nào ở Mỹ thắng kiện trong loại vụ việc như thế này. Còn cho rằng muốn tương đương chứ chưa nói đến thắng kiện thì ít nhất Phương phải có 3 điều kiện tối thiểu sau:
1. Bằng chứng video tape đã có.
2. Cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ phải hết lòng ủng hộ từ xã hội đến các trường.
3. Phải thuê 1 luật sư giỏi người Mỹ. Còn luật sư người Việt dù có giỏi chưa chắc thành công. Ngay cả thuê những luật sư giỏi của Việt Nam ở Mỹ cũng chưa chắc thắng.

Cuối cùng cũng cầu mong cho cháu Phương được kiện, Nếu không được thắng theo kiểu buộc tội về mặt pháp lý đối với 4 cảnh sát (Criminal case), thì ít ra cũng được bồi thường tiền y tế (Civil case) là tốt lắm. Vì nó là con số có mơ thì cả một đời người cũng khó có thể làm ra. Nó lên đến cả triệu đô la Mỹ kim. Chính vì thế mà ở Mỹ rất dễ bị kiện tụng ra tòa. Đặc biệt, làm nghề y như tớ mà bị kiện, nếu không mua bảo hiểm thì chỉ có nước đi ăn cám. Cỡ như bác sĩ Tỵ giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định thì tù mọt gông và bị tước bằng từ lâu chứ không có
chuyện lùm xùm và bảo kê của một ai đó để tồn tại đến ngày hôm nay.
.
Mong rằng bài vết này có thể giúp ích cho các cháu du học sinh Việt Nam trên đất Mỹ. Chúc hạnh phúc.

----

Bài liên quan:

> Khi người Việt bị cảnh sát Mỹ đánh

http://hieuminh.wordpress.com/2009/10/28/3768/


--> Read more..

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Tại sao người ta thích danh xưng ?

Tại sao người ta thích danh xưng?

 
Kichbu Copy and Paste
 
Tham khảo:
> Truy tìm căn nguyên "háo danh" của trí thức
http://kichbu.multiply.com/journal/item/267/267?replies_read=32
.
Tôi khổ tâm nhất là chuyện danh xưng, hay phải nói đúng hơn là “vấn đề danh xưng”. Tôi thỉnh thoảng viết báo và không bao giờ sử dụng đến danh xưng, thế nhưng những người biên tập vẫn chêm vào những danh xưng trước tên tôi, làm tôi rất khổ với Ba tôi lúc sinh tiền. Ba tôi mỗi lần đọc được một bài báo với tên tôi tác giả và có kèm theo mấy chữ nhí nhố trước tên là ông nói xa nói gần rằng có người hám danh, thiếu tự tin, nên dùng đến những danh hiệu phù phiếm. Tôi biết Ba tôi nói ai, và tôi thấy mình oan lắm. Có nhiều người như tôi, không bao giờ dùng danh xưng trước tên mình, nhưng vì ban biên tập thêm vào để -- nói theo họ -- là tăng trọng lượng của bài báo! Tôi không hiểu tại sao ý kiến của một giáo sư hay tiến sĩ phải có trọng lượng hơn ý kiến của một người bán vé số? Thật là vô lí! Người khôn nói 100 điều cũng có ít nhất một điều dại dột, còn người dại dột nói 100 điều chắc cũng có ít nhất là 1 điều khôn. Ý kiến phải bình đẳng.

Nhưng trong thực tế thì ở Việt Nam, danh xưng đóng vai trò quan trọng, hay rất quan trọng. Có một lần, khi về làm việc ở một tỉnh thuộc vùng miền Tây, sau bài nói chuyện tôi được một vị cao tuổi ân cần trao cho một danh thiếp với dòng chữ tiếng Anh: “Senior Doctor Tran V. …”. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một danh xưng như thế trong đời. Tìm hiểu một hồi tôi mới biết ông là một cựu quan chức cao cấp trong ngành y tế của thành phố (đã nghỉ hưu), nhưng vẫn còn giữ chức vụ gì đó trong một hiệp hội chuyên môn. Tôi nghĩ danh xưng “Senior Doctor” (có lẽ nên dịch là “Bác sĩ cao cấp” hay nôm na hơn là “Bác sĩ đàn anh”). Nhưng tại sao lại cần một danh xưng phân biệt “giai cấp” như thế? Tôi đoán có lẽ vị đồng nghiệp này muốn phân biệt mình với “đám” bác sĩ đàn em chăng?

Một lần khác, khi xem qua chương trình hội nghị tôi thấy ban tổ chức viết tên diễn giả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những người có danh xưng tiếng Việt ví dụ như “TS BS Trần Thị …” được dịch sang tiếng Anh là “Dr. Dr. Tran Thi …”. Tôi không khỏi cười thầm trong bụng vì chưa thấy nơi nào trên thế giới có cách viết lạ lùng như thế. Tôi sợ nhất là trong hội nghị có đồng nghiệp ngoại quốc mà họ đọc được cái danh xưng “Dr Dr” này chắc tôi tìm lỗ mà chui xuống không kịp quá! Tôi đề nghị cách viết “đơn giản” hơn là chỉ “Dr” thôi là đủ, nhưng cũng phải vài phút thảo luận người ta mới chịu đề nghị này!

Tôi vẫn còn giữ một danh thiếp khác với dòng chữ: “Dr Specialist II Nguyễn M”. Một anh bạn người Úc tôi có lần tình cờ thấy danh thiếp trên bàn nên thắc mắc hỏi tôi “Specialist II” là gì vậy. Lúc đó tôi cũng chẳng biết, nên đành nói: “I have no idea”, nhưng tôi nói thêm rằng tôi đoán đó là bác sĩ chuyên khoa gì cấp 2 gì đó. Anh bạn đồng nghiệp cười nói mỉa mai (rất dễ ghét) rằng: ước gì tao cũng được cấp II nhỉ?

Không nghi ngờ gì nữa: người Việt rất sính dang xưng. Những gì Dạ Ngân viết đều đúng, nhưng … chưa đủ. Còn nhiều chuyện cười ra nước mắt về những nhầm lẫn về danh xưng (honorific), tước hiệu, và nghề nghiệp ở Việt Nam mà tôi từng chứng kiến trong các hội nghị. Nghe những lời giới thiệu dài lòng thòng như “Giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động, bác sĩ Nguyễn Văn …” nó khôi hài làm sao!

Tôi vẫn tự hỏi tại sao người ta thích danh xưng trước tên mình? Kinh nghiệm của tôi, khi tiếp xúc với những người hay sử dụng danh xưng cho thấy họ thường dùng danh xưng với những động cơ sau đây:

1. Người dùng danh xưng thường muốn nuôi nấng niềm kiêu hãnh của mình. Danh xưng thường có xu hướng bơm phồng “cái tôi” của một cá nhân, và do đó làm cho cá nhân đó tự đánh giá cao chính mình hơn là thực tế. Bà Jill Biden, vợ phó tổng thống Mĩ Joe Biden, từng phàn nàn rằng bà rất “bệnh” khi nhận email và thư gửi đến gia đình với dòng chữ “Sen. and Mrs Biden” (Thượng nghị sĩ và Bà Biden). Bà muốn được danh xưng là “Sen. and Dr. Biden”, và thế là bà đi học đế lấy bằng tiến sĩ Anh văn. Sau 4 năm nghiên cứu, bà được trao bằng tiến sĩ ở tuổi 55. Câu chuyện bà Biden sính danh là đề tài đàm tiếu của giới báo chí Mĩ hồi đầu năm nay.

2. Người dùng danh xưng như là một hình thức tự quảng cáo. Thật ra, một số người sử dụng danh xưng "Tiến sĩ" hay "Giáo sư" nhắm mục đích tăng giá trị, trọng lượng của ý kiến của họ. Trong thực tế, công chúng cũng có khuynh hướng xem ý kiến của một “Giáo sư tiến sĩ” có giá trị cao hơn ý kiến của một … nông dân. Bởi vì đánh giá cao ý kiến của những vị sư sĩ này, nên ít ai dám chất vấn hay phản bác lại ý kiến của họ. Nhưng không có bất cứ một lí do nào để xem ý kiến của một vị giáo sư hay tiến sĩ có giá trị hơn ý kiến của một nông dân; vấn đề là logic và bằng chứng, vì hai khía cạnh này mới chính là thước đo giá trị của ý kiến.

3. Người dùng danh xưng muốn được người khác kính trọng mình. Đây là biện minh (hay lí lẽ) của những người chức sắc tôn giáo, vì họ cho rằng họ cần những “Thượng tọa”, “Hòa thượng”, “Linh mục”, “Mục sư”, v.v… để tín đồ tỏ lòng kính trọng họ. Thế nhưng tôi lại nghĩ các Phật tử hay tín đồ Công giáo vẫn có thể gọi “thầy” và “cha” mà đâu có tỏ ra thiếu kính trọng gì đâu!

4. Những danh xưng thường gây chú ý một cách không cần thiết. Người sử dụng danh xưng ngầm nói cho người khác rằng họ là người quan trọng và đáng được kính trọng. Mặc dù họ không bao giờ thú nhận ý đồ ngầm này, nhưng nghiên cứu tâm lí cho chúng ta biết động cơ sử dụng danh xưng là để gây chú ý như ca sĩ thích làm trò khác lạ để thu hút khán giả.

5. Người dùng danh xưng có khuynh hướng khao khát quyền lực và trần tục. Một nghiên cứu ở Mexico cho thấy rất nhiều chính trị gia không có văn bằng tiến sĩ nhưng họ vẫn tìm cách mua danh xưng “Dr” bằng cách tranh thủ hay vận động để được một đại học nào đó cấp cho bằng “tiến sĩ danh dự” (honour doctor). Với danh xưng này, họ rất dễ thu hút cảm tình của cử tri và có cơ may đắc cử hơn những người không có danh xưng.

6. Người dùng danh xưng hay có xu hướng quảng bá thái độ “elite”, thái độ kẻ cả, hoặc thái độ toàn trị. Những người này thường tự tô son điểm phấn cho mình bằng cách “tiêm” vào mình những danh xưng thật kêu và thật ấn tượng và bắt đầu nhiễm thói kiêu ngạo xem thiên hạ như dưới tay mình.

Ba tôi lúc sinh tiền mỗi lần nghe ai được giới thiệu như trên tivi với những danh xưng dài lê thê như “Nghệ sĩ nhân dân, tiến sĩ Vũ Đình …” thì ông thở dài nói một mình: lại một ông thiếu tự tin, lòe thiên hạ. Ba tôi tin rằng những người cần đến danh xưng phía trước tên mình là một tín hiệu cho thấy người đó hoặc là bất tài, hoặc là thiếu tự tin, nên phải lấy những danh tước đó ra để tự nâng cao giá trị cho mình. Ngẫm đi nghĩ lại tôi thấy Ba tôi cũng có lí, bởi vì ở Việt Nam những người thích dùng danh xưng là các quan chức trong chính quyền. Là quan chức, làm việc hành chính hay chính trị, họ không phải làm chuyên môn; do đó, có lẽ họ có nhu cầu phải quảng bá mình như là một nhân vật "văn võ song toàn", và để cho … oai.

Nhưng các quan chức Việt Nam có danh xưng “Dr.” coi chừng! Năm ngoái, theo tờ Washington Post, có ít nhất 7 người Mĩ với bằng tiến sĩ từ các trường danh tiếng như Cornell và Caltech bị điều tra về tội “mạo danh” (“title fraud”) vì họ đề danh xưng “Dr.” trên danh thiếp của họ và websites. Ở EU, chỉ có những người có bằng tiến sĩ từ các trường của EU mới có quyền dùng danh xưng “Dr.” Chẳng biết hư thực ra sao, nhưng nghe qua thì có vẻ ... vô lí quá!

Ở Việt Nam, vấn đề danh xưng là vấn đề “merit” (xứng đáng). Trước tình trạng tiến sĩ giấy, tiến sĩ dỏm tràn lan ở Việt Nam như hiện nay, bất cứ ai được giới thiệu là “tiến sĩ”, người dân ngao ngán nghĩ thầm “lại một tiến sĩ giấy”. Trong bối cảnh đa số (70% hay 95%) giáo sư Việt Nam không xứng đáng với chức danh đó trên trường quốc tế, và với hệ thống phong tước danh như hiện nay thì làm sao danh xưng này củng cố lòng tin của người dân. Nhưng ở Việt Nam vẫn có những tiến sĩ, những giáo sư thật (tức là họ có học và có nghiên cứu xứng đáng với danh xưng đó), nhưng khổ nỗi vì đại đa số những tiến sĩ giấy và giáo sư dỏm kia làm cho công chúng chẳng biết ai là giả và ai là thật. Do đó, cách đánh bóng danh xưng như ở Việt Nam gây ra tình trạng vàng thau lẫn lộn.

Cách dùng danh xưng hiện nay lẫn lộn giữa bằng cấp, phẩm hàm danh dự, và chức vụ. Ai cũng biết cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là những học vị; phó giáo sư và giáo sư là chức danh khoa bảng trong trường đại học; những “nghệ sĩ nhân dân”, “nghệ sĩ ưu tú”, “nhà giáo nhân dân”, “nhà giáo ưu tú” (toàn bắt chước Trung Quốc!) là những tước hiệu danh dự; còn những “giám đốc”, “đại tá”, “bộ trưởng”, v.v… là chức vụ. Ở Việt Nam, tôi thấy trong các hội nghị, những tước hiệu, chức vụ và học vị đều được liệt kê trước tên người diễn giả, chẳng khác gì một bản lí lịch bằng cấp và chức danh! Ở nước ngoài, trong các hội nghị khoa học, người ta chỉ giới thiệu diễn giả bằng một danh xưng duy nhất như “Dr” hay “Professor”, chứ rất rất hiếm ai giới thiệu thêm chức vụ, và chắc chắn chẳng có ai giới thiệu diễn giả dài lê thê như ở Việt Nam (nếu có ai giới thiệu như thế chắc chắn hội trường sẽ cười ầm lên)!

Cách dùng danh xưng như hiện nay chẳng những lẫn lộn thật giả, giữa chức vụ và học vị, mà còn làm trò cười cho đồng nghiệp quốc tế. Trường hợp mà tôi thuật lại ở trên về “Specialist II” (chắc là bác sĩ chuyên khoa II) là một ví dụ điển hình. Bởi vì chỉ có Việt Nam mới có hệ thống bác sĩ chuyên khoa I, chuyên khoa II lạ lùng như thế, nên đồng nghiệp quốc tế chẳng thể nào hiểu được. Thật ra, họ cũng chẳng cần hiểu Specialist I hay Specialist II hay “chuyên khoa II” là cái gì; họ chẳng thèm tốn thì giờ đọc danh thiếp với những chi chít “Dr”, “Professor” làm gì; họ quan tâm đến CV, đến thực tài hơn. Có liệt kê chín mười danh xưng đi nữa mà CV chẳng có gì, thì chỉ làm cho đồng nghiệp ngoại quốc cười khẩy mà thôi. Khi thực tài không tương đồng hay còn quá thấp so với học hàm và học vị, thì những danh xưng đó chỉ là trò hề cho thiên hạ mà thôi. Nên giảm các danh xưng đi, hay tốt nhất là bỏ đi tất cả danh xưng trong các dịp hội họp chẳng liên quan gì đến khoa học và chuyên môn! Đây là lời khuyên chân tình!

NVT

Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/10/tai-sao-nguoi-ta-thich-danh-xung.html
----
TB: Viết xong entry này, một bạn đọc giới thiệu bài Nghĩ về từ “nhà” rất thú vị trên blog drnikonian. Đọc bài này, tôi mỉm cười hoài. Hóa ra tôi với cái bác drnikonian này lại gặp nhau ở đề tài “nhạy cảm” này.

Có thể đọc thêm những bài sau đây:

Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị của Đinh Kim Phúc.

Danh xưng của Dạ Ngân.
--> Read more..

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2009

"Tránh đừng đụng vào cây, mùa lá rụng"

“Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng”

Hiệu Minh

Sáng nay đi làm, đưa hai cu nhóc ra bến xe bus của trường đưa đón. Chúng chạy tung tăng, đuổi theo những lá vàng mùa Thu của Virginia đang đến. Chợt nghĩ đến e-mail của người bạn tuần trước.

Anh thông báo vừa nhận được thư mời về dự Hội nghị kiều bào toàn cầu lần thứ nhất, tổ chức tại Hà nội vào 20-24/11/2009. Dự kiến có khoảng 650 đại biểu đại diện cho các giới nhân sỹ, trí thức, doanh nghiệp, tôn giáo về dự và đóng góp những ý kiến tâm huyết cho đất nước.

Anh rủ tôi về cùng cho vui.  Có lẽ do công việc làm ăn, tôi khó mà dứt ra được, trừ phi có chuyến đi của sếp lớn để bám càng.

Không hiểu sao cha này, thời những năm 1970 học ở Mátxcơva, lại lang thang sang tận xứ Mỹ làm ăn và đã có quốc tịch Mỹ hẳn hoi. Ở đây không ai hỏi thu nhập bao nhiêu, nhưng nhìn cái nhà gần triệu đô cũng đoán ra anh thu nhập thuộc loại cao.

Mới đây, nghe chuyện mấy vị trí thức IDS sắp bị đem ra “xử lý” vì những “phát biểu thiếu xây dựng”, anh và vài người bạn gọi điện hỏi tôi, thế này là thế nào, tại sao lại thế. Thông điệp này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh kêu gọi chất xám quay về xây dựng đất nước và lại xảy ra ngay trước thềm hội nghị kiều bào toàn thế giới.

Anh đang lo, bài phát biểu dự định tại hội thảo có vấn đề gì không. Khen xã giao dễ quá, nhưng tham gia chuyên đề “Chuyên gia, trí thức kiều bào, góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, đôi khi chủ nhà phải nghe những điều khó lọt tai, vai trò của trí thức vốn là phản biện mà.

Các bố Việt kiều này quen sống và làm việc với hệ thống pháp luật rõ ràng, chính phủ minh bạch, nên đôi lúc muốn “đi tắt đón đầu” thật nhanh để nước mình được như Tây. Áp dụng vào Việt Nam đâu có dễ. Cái gì cũng cần thời gian, nhất là con người cần được thay đổi trước.

Tôi khuyên anh, cứ yên tâm, chả có vấn đề gì đâu. Đất nước mình vẫn đánh giá cao sự đóng góp của kiều bào, máu thịt của Việt Nam. Quan trọng là sau hội thảo thì những ý kiến tâm huyết nào được đưa vào thực tế cuộc sống.

Nếu sợ xảy miệng thì thôi đừng nói gì. Tuy nhiên, nên mua vé máy bay về dự, được ăn ở miễn phí, đi du lịch, dành thời gian cho họ hàng, thấy đất nước thay da đổi thịt. Sống xa Tổ quốc, nhưng lòng vẫn hướng về cội nguồn, cũng là một đóng góp quan trọng.

Nghe tôi nói thế, anh có vẻ yên tâm. Không hiểu, anh đã đăng ký tham dự hay chưa.

Mấy hôm nay, anh gửi cho tôi những bài thơ của Olga Becgon qua lời dịch của Bằng Việt. Cha này vẫn không quên nước Nga huyền diệu thời trẻ, chắc cũng dăm mối tình vắt vai ở xứ bạch dương. Ngày trẻ, tôi cũng chép thơ của nữ thi sỹ lãng mạn này vào sổ tay. Tuy sai be bét, nhưng gửi cho bạn gái, vẫn được “thêm điểm”.

Theo anh, thơ Olga Becgon là một trong những kiệt tác của nền thi ca Nga. Nhưng thật buồn cười, anh lại dùng cho những lời bình về bản thân, về đời, rất độc đáo, chẳng liên quan gì đến tình yêu lứa đôi mơ mộng trong thơ. Có lẽ bác này hâm hâm kiểu mọt sách rồi.

Từng là một thanh niên đầy nhiệt huyết, làm khoa học, sau bao năm cơ chế, chẳng phát triển được gì, ngoài mấy đồng lương còm cõi, vừa đủ nuôi thân. Bỏ đi, lang thang bao xứ người, để rồi một hôm, anh nhận ra “Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn//Em mới hiểu bấy giờ anh có lý//Chuyện cũ xa rồi, mình cũng xa cách thế//Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa”. (Không đề)

Những đề án tâm huyết gửi cho sếp, nhưng lại bị xếp xó, anh phê lên trang đầu “Chỉ có một lần thôi//Em hỏi anh im lặng//Thế mà em hờn giận//Để chúng mình xa nhau”. (Câu chuyện mười năm).

Mùa hè rớt” tả đúng tâm trạng người trí thức sống đời hiu quạnh ở nước người “Sao ơi sao, sao sắp lặn vào đêm//Ta biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt//Nhưng chỉ mãi bây giờ ta mới biết//Yêu đương, giận hờn, tha thứ, chia tay”.

Ở Mátxcơva, thời của Olga những năm 1930, vào mùa Thu sẽ thấy những tấm biển trên các đại lộ “Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng”. Không hiểu sau 70 năm, biển đó có còn không, nhưng bài thơ đi mãi cùng năm tháng.

Những người trí thức lúc xế chiều thì kho báu mới bắt đầu bộc lộ. Họ như những lá mùa Thu rực rỡ, đóng góp cho đất nước những chắt chiu giá trị như vàng ròng lúc cuối đời. Nhưng họ cũng mong manh, động vào, sẽ rụng xuống như lá thu kia.

Nguyên khí quốc gia, nhất là những cây cao bóng cả, cần được trân trọng, lắng nghe, như người Nga nâng niu những chiếc lá sắp rụng trên phố. Dân tộc ấy vĩ đại hơn người vì biết nghe hơi thở của cây khi Thu tàn Đông đến.

Xin kết thúc entry bằng khổ đầu của bài “Mùa lá rụng” mà anh e-mail cho tôi sáng nay. Bỗng thấy rất hợp với cảnh Thu vàng Virginia đang bắt đầu.

Những đàn sếu bay qua//Sương mù và khói toả//Mátxcơva, lại đã Thu rồi//Bao khu vườn như lửa chói ngời//Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ//Những tấm biển treo dọc theo đại lộ//Nhắc ai đi ngang, dù đầy đủ lứa đôi//Nhắc cả những ai cô độc trong đời//Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng.”

H. M.

Nguồn: http://hieuminh.wordpress.com/2009/10/22/tranh-dung-dong-vao-cay/

--> Read more..

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2009

Một cái tát văn hóa!!!

Một cái tát văn hóa!!!

Kichbu Copy and Paste

Đọc thêm:

> Bà Quách Thi Hồ: Người ta đã vục mặt chúng tôi xuống bùn

http://nguyenxuandien.multiply.com/journal/item/217/217

-----

Tối hôm CLB Ca trù Thăng Long và CLB Quan họ Đặng Xá (Bắc Ninh) hát thờ cửa đình Cống Vị (Hà Nội) mừng sự kiện 2 di sản được vinh danh, đã xảy ra một chuyện thật đáng xấu hổ. Bên trạm y tế phường (nằm kế bên đình), tiếng đàn organ cùng dàn đồng ca của đội văn nghệ cựu chiến binh phường, lực lượng công an phường và ông Phó chủ tịch phường đã “hợp lực” thể hiện một “cái tát văn hóa” như trời giáng vào các nghệ nhân, đào kép, liền anh liền chị, các nhà báo cùng những người tận tâm tận lực với Ca trù, Quan họ.

Mặc dù trước đó, đại diện của CLB Ca trù Thăng Long đã sang có lời xin đội văn nghệ phường hoãn buổi tập để nhường cho lễ vinh danh di sản ở sân đình, nhưng họ quyết không chịu. Bởi vậy, chuyện hỗn tạp âm thanh như trêu ngươi đã xảy ra. Đám khách nước ngoài đến dự lễ hát cửa đình chốc chốc lại nhăn mặt mỗi khi tiếng nhạc xập xình với dàn amply lớn bên đội văn nghệ phường “chát xình chát chát bùm” thắng thế, lấn lướt chương trình cổ nhạc bên đình.

Điều quái dị nhất, một nhóm người bao gồm công an và cán bộ lãnh đạo phường đã lập tức có mặt để… xử lý những người đang làm lễ tôn vinh di sản. Chủ nhiệm CLB Ca trù Thăng Long Phạm Thị Huệ đã bị gọi ra ngoài thẩm vấn, kết tội là dám biểu diễn hơn… 1 bài mà không xin phép, tụ tập đám đông quá mức cho phép (19 người), lại có cả… đám khán giả, người nước ngoài và… các nhà báo?!?!

Điều lạ lùng là ngay từ ngày đầu đến nương nhờ cửa đình Cống Vị (mùa Thu năm 2008), CLB Ca trù Thăng Long đã có đơn xin phép Ủy ban nhân dân phường sở tại, thông qua Ban di tích đình Cống Vị kèm theo Giấy chứng nhận địa chỉ văn hóa của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Cả thời gian dài, CLB Ca trù Thăng Long đã biểu diễn đều đặn hàng tháng, sinh hoạt dậy trống chầu mỗi tuần 1 lần, tất cả đều miễn phí nhằm hoạt động quảng bá cho Ca trù.

Một năm trời hoạt động, lãnh đạo phường không hề nói gì, vậy mà chỉ sau khi di sản được vinh danh thế giới có mấy ngày, họ đã đến đình chỉ sinh hoạt của CLB. Từ nay, CLB Ca trù Thăng Long lại rơi vào cảnh không chốn nương thân.

Than ôi! Thương biết mấy thân phận bèo bọt của Ca trù, chợt nhớ đến các cụ Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Đinh Khắc Ban, Phó Đình Kỳ…

Blog Sĩ Phu Bắc Hà

Thêm tài liệu cho hồ sơ ca trù

Lại Nguyên Ân

Chắc hẳn nhiều người đang hân hoan với sự kiện ca trù của Việt Nam vừa được tổ chức UNESCO công nhận là di sản cần được bảo vệ. Để đạt được sự công nhận này, những người làm hồ sơ hẳn đã tốn rất nhiều công sức tập hợp các nguồn tài liệu khác nhau.

Tôi chưa có hân hạnh được xem hồ sơ của quý vị. Nhưng tôi dám chắc rằng trong hồ sơ ấy chưa có tài liệu sau đây, nó cho thấy cách nay trên 50 năm, chính báo Nhân dân đã lên tiếng đả kích ca trù, xem nó như thứ nghệ thuật lãng mạn, trụy lạc, không xứng đáng là vốn cũ cần bảo tồn.

Và đúng như thái độ mà báo Nhân dân thể hiện, kể từ giữa năm 1958, các nghệ nhân ca trù được đối xử tương tự các thày cúng, thày bói, cô đồng, được gọi chung là người làm nghề mê tín dị đoan, bị cấm hành nghề, bị các cơ quan văn hóa và an ninh theo rõi, quản lý. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mai một của ca trù. Sự thật này chắc hẳn chưa có trong hồ sơ trình với UNESCO của quý vị.

Vậy, tôi xin đưa lại với công chúng bài văn châm biếm ca trù của ký giả Đào Viên, từng đăng trong mục “Nói thật không mất lòng” của báo Nhân dân ngày Chủ nhật 01/12/1957; Đào Viên chắc hẳn chỉ là bút danh; bút danh này của ai, bây giờ chỉ có thể hỏi các ông Hoàng Tùng, Hữu Thọ, Phan Quang… mà thôi. Lại cũng phải nhớ rằng, hơi khác chút ít với bây giờ, thời đó mỗi lời trên báo Nhân dân đều được hiểu là lời của Đảng, là chủ trương chính sách của Đảng. Vậy thì cũng không quan trọng gì lắm cái việc xác định người ký Đào Viên 50 năm trước này là ai.

12/10/2009

LNA

IMG_0242.JPG
Một góc trang báo 'Nhân dân' Chủ nhật 01-12-1957 có in bài thơ 'Hát ả đầu'

Bài thơ trên báo Nhân dân Chủ nhật 01-12-1957:

NÓI THẬT KHÔNG MẤT LÒNG

HÁT Ả ĐẦU

Hôm nọ tôi dạo phố

Đi gần đến Hàng Đào,

Qua một căn nhà rộng,

Trong có tiếng ồn ào,

Tôi chạy đến bên cửa.

Dừng chân đứng trông vào,

Nào chiếu hoa sập gụ,

Nào đàn nguyệt trống chầu,

Khá đông khách tham gia

Ghế ngồi chen chúc nhau.

Có người ra giới thiệu,

Giải thích một hồi lâu,

Rằng vốn cổ dân tộc

Cần phải được nâng cao.

Rồi các người ra mắt

Lần lượt đứng lên chào:

Anh kép gẩy đàn nguyệt

Đóng hệt như người mù

Hai chị em phụ nữ

Chóp chép miệng nhai trầu,

Chuỗi cườm thõng về trước,

Đuôi gà lòi ra sau,

Sênh phách đủ bộ tịch,

Dáng dấp như ả đầu;

Một quan viên đứng tuổi

Mép đã có chòm râu

Miệng toét ra nụ cười,

Tay cầm sẵn roi chầu,

Ai nấy ngồi xong xuôi,

Tiết mục liền bắt đầu.

Anh kép dạo đàn trước,

Ả đầu cất giọng sau.

Tiếng hát lúc cao thấp,

Đường tơ khi nhặt mau,

Nào “trời đất gió bụi” [1]

Chinh phụ nhớ chinh phu,

Nào “chữ tài chữ mệnh” [2]

Thương phận bạc nghìn thu,

Nào “hồng hồng tuyết tuyết” [3]

Tiếc xuân khi bạc đầu,

Nào “non sông không thấy” [4]

Mượn chén cứ tiêu sầu.

Tiết mục lại tiết mục

Tâm tư khơi càng sâu!

Ca như khóc như oán

Lòng thêm buồn thêm đau,

Liên hệ đến thân phận

Cô hát thường cúi đầu;

Lệ rơi đá chẳng thấm,

Máu chảy ruồi cứ bâu,

Quan viên như đắc ý

Tom chát rền nhịp chầu,

Bao tình tiết lãng mạn,

Được tán thưởng cùng nhau!

Bao tâm hồn trụy lạc,

Được khuyến khích nêu cao!

Vốn cũ chi mà thế?

Ai ơi nghĩ thử nào!

*

Trông vào đám khán giả

Thái độ cũng khác nhau:

Có người thấy vô vị,

Chuồn ngay từ lúc đầu;

Có người rất thích thú,

Mải miết nghe từng câu,

Tay đôi lúc đập nhẹ,

Đùi có khi rung mau,

Như cá được gặp nước,

Như cung vừa ứng cầu;

Có người rốn ngồi xem,

Để tìm hiểu nông sâu,

Nhưng cũng vẻ khó chịu,

Thường mặt ủ mày chau;

Mấy chị em bạn gái,

Tâm sự đầy một bầu,

Coi như bị vụ nhục,

Máu nóng bốc lên đầu,

Để tỏ nỗi chán ghét,

Nói ồn lên mấy câu:

“Thật là trò quái gở,

Xem chẳng ích gì đâu!”

Dắt nhau cùng đứng lên,

Lách mình ra cửa sau,

Người xem chuồn hầu hết,

Tôi không tiện đứng lâu,

Đi về gần đến nhà,

Tai còn nghe tiếng chầu [a]

Vừa đi vừa nghĩ ngợi,

Nên bài thơ tám câu:

Thơ rằng:

Quen thói trăng hoa xóm ả đầu,

Đồi phong bại tục ấy từ đâu?

Quan viên thích ý tay chầu nhặt,

Ca nữ thương thân tiếng hát sầu,

Hoa rụng chẳng mong gì đất sạch,

Hương phai càng được lắm ruồi bâu,

Ai ơi vốn cũ chi mà thế,

Xin chớ lừa nhau, mơn trớn nhau!

*

Xin chớ lừa nhau, mơn trớn nhau,

Những điều trông thấy nghĩ mà đau,

Tên rằng vốn cũ, rằng văn nghệ,

Cảnh vẫn quan viên, vẫn ả đầu.

Đã biết trò xưa không đẹp nữa,

Thì mang lốt mới có hay đâu!

Khâm Thiên tuồng ấy xin đừng diễn [5],

Bại tục đồi phong lại ngóc đầu!

ĐÀO VIÊN

Nguyên chú:

[1] “Thưở trời đất nổi cơn gió bụi, Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên” là câu đầu của “Chinh phụ ngâm”.

[2] “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” là câu mở đầu của “Truyện Kiều”.

[3] “Hồng hồng tuyết tuyết” là một bài hát ả đầu của Nguyễn Công Trứ, đại ý nói lúc tuổi già đầu bạc rồi gặp gái đẹp thêm ngại [b].

[4] Bài hát của Tản Đà có câu: “Say chẳng biết phen này là mấy, Nhìn non sông không thấy lại mà say”, lại có câu: “Vợ rằng say rượu là vô ích, ta muốn tiêu sầu cứ tự do”.

[5] Khâm Thiên trước kia là phố hát ả đầu.

[a] Có lẽ là “trống chầu” mà báo in sai (L.N.Â. chú).

[b] Chỗ này Đào Viên nhớ sai: “Hồng hồng tuyết tuyết” là bài hát ca trù nổi tiếng của Dương Khuê (L.N.Â. chú).

Nguồn: Nhân dân, Hà Nội, chủ nhật, 01/12/1957, tr. 3

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

-----

--> Read more..

Steps


Flag Counter