Hiển thị các bài đăng có nhãn dongocbich. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dongocbich. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Trữ tình ngoại đề nhân bài báo tai tiếng

22/04/2010

Trữ tình ngoại đề nhân bài báo tai tiếng trên trang tiếng Việt của đài BBC ngày 17/4/2010

 

Hoàng Dzung

 

Bài viết này xem như là một dư âm còn ngân lại sau những luồng dư luận sôi nổi mà một ký giả trên BBC tiếng Việt đã cố ý – nếu chúng tôi không nhầm – làm dấy lên. Đó là điều dù muốn tránh cũng không thể được, giống như những gợn nước trên mặt ao còn lan mãi không ngừng sau khi một hòn đá lớn do người nào đó ném mạnh xuống ao.

Nhưng không cùng dạng với bài tiếp theo sau bài này của Nguyễn Tuấn Khải vẫn nói trực tiếp đến đối tượng đã gây nên làn sóng công phẫn (mà vì BVN đã hứa chấm dứt cuộc chơi này rồi nên phải có Lời dẫn dành riêng để bạn đọc thông cảm), những lời bàn giải của bạn Hoàng Dzung nói ở đây là một luận bàn theo hướng mở, đúng như tiêu đề là trữ tình ngoại đề, nhằm rút ra những điều cốt thiết cho nhận thức của mọi chúng ta trong tình hình phức tạp của thời đoạn hôm nay, khi cái đúng cái sai có thể khoác lẫn áo của nhau, khi cái chính thống chưa chắc đã đồng nhất với cái đúng, khiến cho mọi tranh luận không phải dễ dàng ngã ngũ. Và cũng vì thế rất cần có một sự cảnh tỉnh nào đấy để lớp trẻ, tức là thế hệ Việt Nam tương lai, nhạy bén, tỉnh táo, và biết cách tự miễn dịch với đủ thứ hàng giả độc hại.

Bauxite Việt Nam

 

Câu chuyện về một người đàn bà háo danh, hàm hồ và trơ trẽn một cách khó thương mà công luận lên tiếng mấy ngày nay, đến đây có thể chấm dứt được rồi. Tôi không muốn lại nêu tên người ấy, giống như người Hy Lạp thuở xưa đã không gọi tên mà chỉ gọi là “kẻ đốt đền”, hay “tên đốt đền” đối với một kẻ háo danh ngu ngốc nào đó đã ngỡ rằng đời sau sẽ phải nhắc đến tên mình bên cạnh tên người đã xây dựng ngôi đền trứ danh thờ thần Artemis ở Ephesus.

Chân tướng của người này đã bộc lộ quá rõ. Các nhà khoa học quốc tế, kể cả người Việt lẫn người Mỹ đã cho biết, con người này chưa từng có trong tay, hay đúng hơn là chưa kịp mua xong tấm bằng mà cô ta hằng mơ ước và mạo nhận, nói chi là đang giảng dạy ở đại học Yale của Mỹ. Thật là một cú lừa ngoạn mục của thời đại siêu lừa, ngay cả một thương hiệu danh tiếng lẫy lừng và có lòng tự trọng nghề nghiệp rất cao như đài BBC mà cũng bị lừa. Trước khi đến Mỹ cô ta đã được đào tạo ở nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Câu chuyện tiếp theo tới đây là của Đại học Yale và đài BBC cùng với độc giả Việt Nam và độc giả khắp năm châu; chúng ta không cần quan tâm và tốn thêm giấy mực về nó nữa.


Đáng nói chỉ là, toàn thể những người Việt Nam yêu nước qua câu chuyện này cần đề cao cảnh giác về những hậu duệ của Trần Ích Tắc, của Lê Chiêu Thống và kể cả của Trọng Thủy vẫn còn lẩn khuất đâu đây trong xã hội lẫn trong cái giới đang nắm vận mạng quốc gia hiện nay. Chúng là một nguy cơ ở dạng tiềm năng, sẽ tự phát trỗi dậy khi đất nước đứng trước hiểm họa bị láng giềng lấn lướt, quan trọng hơn, khi xã hội công dân của cả nước bị kìm nén, không phát huy được sức mạnh tinh thần cần có để đè bẹp cái mầm phản trắc từ trong trứng nước.

Đáng nói còn là trước một câu chuyện động trời như thế mà giới truyền thông chính thống trong nước vẫn chưa thấy có một tiếng nói nào, cơ quan và người đứng đầu trong việc quản lý lĩnh vực này vẫn “câm như hến” tựa như “ăn xôi chùa ngọng miệng” vậy. Có lẽ sự im hơi của những người cầm chịch cái công việc mà sự nhạy bén tin tức đòi hỏi phải nắm được cũng như xử lý được trước hơn ai hết, là một tín hiệu báo rằng, giới truyền thông hãy bám lề phải mà đi, rằng phản đối hiện tượng này là sa vào lề trái của luật lệ báo chí? Có thể rằng vì thấy như thế thì “kỳ cục” và lạc lõng quá rồi đây người ta cũng sẽ lên tiếng, nhưng đối với lĩnh vực thông tin mà tính thời sự để trôi đi mất thì thông tin ấy còn ý nghĩa gì? Tuy nhiên muộn vẫn còn hơn không, vì sự vớt vát ít nhiều vẫn còn chứng tỏ rằng lương tri và sự dũng cảm của con người vẫn chưa mất. Hãy cứ hy vọng như vậy.

Cảm ơn BVN - một thương hiệu đã thành danh trong nước và trong giới truyền thông quốc tế - đã sớm phát hiện và góp phần đắc lực làm sáng tỏ vụ việc.

Ngẫm nghĩ xa hơn, ta bỗng thấy băn khoăn về nền giáo dục đầy dẫy bạo lực từ bậc mẫu giáo đến cấp phổ thông trung học đã sản sinh ra một thế hệ con người mang mầm mống bạo lực ngay từ trên ghế nhà trường. Nữ sinh đánh nhau trên hè phố. Nữ sinh thản nhiên đánh “hội đồng” bè bạn và còn chuyền tay nhau tung hình ảnh này lên mạng để mọi người cùng thưởng lãm. Thầy cô giáo đánh học trò. Học trò đánh thấy cô giáo v.v., tiêu cực học đường nhan nhản không sao kể xiết! Một xã hội đầy bất công và tiêu cực mà người đứng đầu nhà nước lại tuyên bố rằng trong suốt các nhiệm kỳ tại vị, người ấy chưa từng kỷ luật bất cứ một ai. Có lời tự thú nào thành thực hơn! Bầy dê con quên lời mẹ dặn đã mở cửa cho sói vào nhà trong một truyện cổ tích mà gần như trẻ em nào cũng biết, thế mà người ta lại mở cửa biên giới ở những vùng xung yếu, nhạy cảm cho kẻ đã và đang xâm lược lãnh thổ của nước ta được thuê đất trồng rừng dài hạn, trong khi Chính phủ vẫn không hay biết, chỉ đến khi báo chí và dư luận trong nước đánh động thì mới cho người đi xác minh. Có bức tranh tự họa nào mô tả chính xác hơn hiện trạng tê liệt cảnh giác và thiếu tinh thần trách nhiệm của giới lãnh đạo qua hoạt cảnh này? Chính cái nền giáo dục ấy và “giới thủ lĩnh bầy đàn” ấy đã minh họa hùng hồn cho câu phương ngôn “Rau nào sâu ấy” và đó cũng là lời giải thích cho hiện tượng bắt chước vụng về kịch bản “kẻ đốt đền” made in Việt Nam này.

Thật đáng mừng là sự phản ứng vô cùng nhanh nhạy của đông đảo giới “Blogger” và các độc giả trẻ tuổi trong và ngoài nước có dòng máu Việt Nam đang chảy trong huyết quản, trước hiện tượng trơ trẽn và vô liêm sỉ của cái “quái thai” kia. Phản ứng của giới trẻ và giới ‘Blogger’ khiến cho những ai tâm huyết với vận mệnh đất nước cảm thấy bớt trăn trở, vì lòng yêu nước chỉ bị cấm đoán và kìm hãm bởi giới cầm quyền chứ không hề ngủ quên, hay bị dập tắt trong bất cứ người Việt Nam chân chính nào, bất kể người đó đang sinh sống ở đâu trên trái đất này. Sự phản ứng tức thì mang tính phản biện của đông đảo độc giả khiến người ta liên tưởng đến những biển người cuồng nhiệt tuần hành gần như đồng loạt và reo hò suốt cả đêm thâu đầy ắp khắp các nẻo đường trên tất cả các thành phố lớn của giải đất hình chữ S thân thương, trên tay họ phất cao lá cờ Tổ quốc, trên ngực áo bên cạnh trái tim là ngôi sao vàng trên nền áo đỏ mỗi khi ăn mừng thắng lợi của bóng đá Việt Nam. Tuy rằng ít nhiều những hành động ấy có tính bộc phát thái quá, nhưng đó là sự phản ánh nỗi khát khao của giới trẻ Việt Nam cầu mong đất nước được một lần “lên ngôi” trong môn thể thao vua trên sân cỏ Đông Nam Á. Đó chính là sự biểu dương của lòng yêu nước. Đó là sự nhắc nhở, rằng nếu động đến đất nước này thì không những chỉ ở những thành phố lớn mà khắp cả nước và khắp cả năm châu, ở đâu có người Việt Nam thì cũng sẽ có những cuộc xuống đường như thế, những cuộc xuống đường mà sự phẫn nộ được tích tụ và bị dồn nén thái quá bấy lâu nay có thể nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước lẫn bè lũ bán nước.

Các bạn, có ai muốn đo đếm cho hết tâm huyết sục sôi của bao nhiêu con người mang trong mình dòng máu Việt Nam ở cả trong và ngoài nước trước sản phẩm có hình dáng quái thai “made in Việt Nam” mà đài BBC đã trình làng qua bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”, thì hãy gõ dòng chữ này vào trang Google, qua đó bạn sẽ tận mắt nhìn thấy vô vàn những lời góp ý ngắn dài đủ loại làm mình nức lòng - ấy là lời chứng nghiễm nhiên về thế hệ hôm nay đang thật sự thăng hoa bởi chính lòng yêu nước. Và đó cũng là niềm tin của chúng ta đặt cược vào tiền đồ dân tộc.

HD
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

 

Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2010/04/tru-tinh-ngoai-e-nhan-bai-bao-tai-tieng.html#more

 

--> Read more..

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

Tác giả Đỗ Ngọc Bích trả lời độc giả

Tác giả Đỗ Ngọc Bích trả lời độc giả

 

Tin liên quan:

> Thư ngỏ gửi vị tiến sỹ đại học Yale

http://kichbu.multiply.com/journal/item/660

Thứ nhất, tôi xin cảm ơn và tiếp thu tất cả các ý kiến được diễn đạt một cách lịch sự từ trong và ngoài Việt Nam đã giúp tôi hiểu rõ thêm vấn đề.

Trong bài viết của tôi, nếu mọi người để ý sẽ thấy tôi chỉ đưa ra các câu hỏi, chứ không có câu trả lời.

Quan điểm của tôi, cũng như một câu châm ngôn mà các giáo sư ở Mỹ thường nói là: "Chỉ có câu trả lời ngu xuẩn, không có câu hỏi ngu xuẩn."

Chuyên môn của tôi là Hoa Kỳ học, và tôi cũng mới có hân hạnh bước chân vào lĩnh vực lịch sử Việt Nam chưa lâu.

Do đó, cũng như mọi người, tôi ý thức rằng kiến thức là bao la, không phải ai cũng biết hết được mọi điều? Thế nhưng, chẳng lẽ khi ta chưa biết hết ngọn ngành mọi điều thì cũng không đươc phép đưa ra các câu hỏi mở đường thảo luận?

Thứ hai, tôi không đọc, không chấp nhận, và không đáp lại những lời lẽ xúc phạm thô bỉ của những người phê phán, chỉ trích tôi.

Ý tưởng viết bài của tôi xuất phát chính từ cảm giác bực dọc, khó chịu khi phải đọc những lời phỉ báng, lăng mạ của các blogger trong nước và hải ngoại đối với nhà nước Việt Nam hay nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc trên Facebook hay diễn đàn BBC, VOA tiếng Việt.

Ý tưởng viết bài của tôi xuất phát chính từ cảm giác bực dọc, khó chịu khi phải đọc những lời phỉ báng, lăng mạ của các blogger trong nước và hải ngoại đối với nhà nước Việt Nam hay nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc trên Facebook hay diễn đàn BBC, VOA tiếng Việt.

Đỗ Ngọc Bích

Phê phán ở mức độ lịch sự thì được, nhưng xúc phạm lăng mạ thì không nên.

Tôi thấy họ có vẻ ghét TQ quá thể, nên muốn tìm ra nguyên cớ tại sao họ ghét TQ và một số lãnh đạo VN đến thế, và cố gắng làm cho họ bớt thù hận, bình tĩnh, rộng lượng hơn một chút với một số bối cảnh ngoại giao Việt Trung hiện thời.

Tôi tin rằng kiểu phê phán lăng mạ chỉ gây phản cảm, phản tác dụng, và theo tôi không thể có kết quả gì.

Điều này, hơn nữa, cũng làm tôi liên hệ tới vụ ông Bill Clinton , cựu Tổng thống Hoa K ỳ khi còn tại vị, bị đảng Cộng Hòa tấn công chỉ trích vì vụ tai tiếng Monica Lewinsky.

Đảng Cộng Hòa và phương tiện truyền thông đã phê phán mỉa mai quá mức, và kết cục lại làm người dân thông cảm hơn với ông Clinton và ông cựu Tổng thống này đã không bị bãi nhiệm.

Tương tự, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, ông John Kerry tuy dẫn điểm trong thời gian dài, song lại có lời chỉ trích ông George W. Bush quá mức, nên trở nên kém thuyết phục, và kết quả là mất điểm trong vòng bầu cuối cùng.

Thứ ba, những ai cho rằng tôi không phải là người Việt, hay không đáng là người Việt, thì nên nghĩ lại. Tôi e rằng đó có thể là cách suy nghĩ theo kiểu "bộ lạc." (tribal)

Điều này làm tôi không khỏi không nghĩ đến rất nhiều người Mỹ đã bị chỉ trích là "không phải là người Mỹ," "không xứng đáng là người Mỹ" khi họ nghi ngờ hay phản đối một số chính sách hay quan điểm của một cá nhân hay tổ chức nào đó.

Nếu tất cả bọn họ đều sợ hãi trước lời chỉ trích đó của đồng bào mình, thì có lẽ nhiều điều rất tồi tệ đã có thể xảy ra.

Xin cảm ơn các độc giả mục diễn đàn và Ban Việt ngữ BBC.

Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/04/100420_dongocbich_comment.shtml

--> Read more..

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

THƯ NGỎ GỬI VỊ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC YALE

THƯ NGỎ GỬI VỊ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC YALE


Đinh Kim Phúc *


Nhân đọc bài Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộccủa Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC Việt ngữ ngày thứ bảy, 17 tháng 4 năm 2010, tôi có đôi điều muốn thưa chuyện cùng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích.

Trước hết, đọc những dòng sau đây của Đỗ Ngọc Bích:

1. “Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc ‘hơi nhiều”.

Thưa tiến sĩ, trong những năm cuối 1970 và đầu 1980 tiến sĩ đang ở đâu? Đang ở trời Tây trong giảng đường đại học hay nép mình trong góc phố an bình nào đó ở Việt Nam trong lúc hàng ngàn người dân Việt đã ngã xuống chống giặc để cho cô có mãnh bằng học vị hôm nay. “Chủ nghĩa dân tộc có điều khiển” là gì thưa tiến sĩ? Sao lời lẽ của tiến sĩ tương tự như bộ máy tuyên truyền chụp mũ trên Mạng Hoàn Cầu đến thế!

2. “Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”.

Cô tiến sĩ ơi, tôi tin rằng cho dù Cô được học và lớn lên trên đất Mỹ, nhưng giáo trình nào? tài liệu nào của Mỹ đã dạy cho Cô “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”? Sao tiến sĩ không nói luôn là “Việt Nam vốn bị Trung Quốc đô hộ tự nghìn xưa, là phần đuôi của Đại Hán?” Còn cái mà Cô gọi là “ân huệ” thì phải chăng Cô muốn cùng Giáo sư Lê Xuân Khoa thảo luận lại “ Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”.

3. Thêm nữa, “Cho dù Trung quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà ‘mình nên nhớ’. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng”.

Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích muốn nhớ, thì nhân đây tôi giúp cho Cô nhớ:

“Theo dõi việc đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ từ ngày đầu đến ngày cuối, tôi – và các nhà báo khác có quan hệ chặt chẽ với các đoàn xã hội chủ nghĩa – không nghi ngờ gì về việc đoàn Trung Quốc không ủng hộ mạnh mẽ đoàn Việt Nam. Nhiều năm sau Hội nghị, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn nói một cách trung thành: “các kết quả đã đạt được qua thảo luận và thỏa thuận chung”. Điều đó đúng sự thật theo nghĩa đen, nhưng không đúng sự thật thực sự, dù chỉ là một nửa.

Khi hội nghị thảo luận đến vấn đề quy định một giới tuyến để quân đội Pháp rút về phía Nam và quân đội Việt Minh rút về phía Bắc, ông Phạm Văn Đồng đề nghị một đường ranh giới dọc theo vĩ tuyến 13. Trong tình hình thảm hại của lực lượng Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ, và số còn lại trong những lực lượng tinh nhuệ của họ thì đang bị bao vây ở đồng bằng Sông Hồng và các nơi khác ở miền Bắc, đó không phải là một đề nghị không phải chăng. Đề nghị đó sẽ cho Việt Minh có 100km biên giới chung với Cam-pu-chia và sẽ bù đắp lại việc họ không giành được một vùng tập kết cho các lực lượng Khơ-me I-xa-rắc. Nhưng, trước “chủ nghĩa thực tế” và “chủ nghĩa thực dụng” đó, từng bước ông Phạm Văn Đồng đã buộc phải lùi đường ranh giới của mình qua vĩ tuyến 14 (như vậy cũng vẫn cho Việt Minh có một biên giới nhỏ với Cam-pu-chia), rồi qua vĩ tuyến 15 tới vĩ tuyến 16, tại đó ông kiên quyết giữ lập trường.

Đã hai lần trong lịch sử Việt Nam, vĩ tuyến 16 từng là ranh giới phân chia tạm thời. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khi quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc kéo vào phía Bắc và quân đội Anh vào phía Nam (bề ngoài là để vây quét tàn dư của quân đội chiếm đóng Nhật và đưa chúng về Nhật), đường ranh giới giữa hai lực lượng này chạy dọc theo vĩ tuyến 16 và qua ngoại ô phía Nam của Đà Nẵng. Khi đất nước bị chia cắt giữa nhà Trịnh và nhà Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, đường ranh giới cũng chạy dọc vĩ tuyến 16 trở thành giới tuyến lô-gích – nếu cần phải có một giới tuyến.

Những người Pháp đòi một đường ranh giới dọc vĩ tuyến 17. Sau một cuộc gặp riêng giữa Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng mới của Pháp, Pi-e Măng-đét Phrăng và Chu Ân Lai, Chu ủng hộ lập trường của Pháp…

Chu Ân Lai nói rõ với người Pháp rằng Trung Quốc đến Giơ-ne-vơ trước hết là để bảo vệ lợi ích của chính mình chứ không phải lợi ích của các lực lượng cách mạng Đông Dương. Điều này trở nên sáng tỏ một cách tàn nhẫn trong một cuốn sách về Hội nghị Giơ-ne-vơ, dựa trên những tài liệu về Hội nghị chưa hề được công bố, của nhà viết sử và chuyên gia về Châu Á người Pháp Phrăng-xoa Gioay-ô – Tác giả kể lại một cuộc họp giữa Chu Ân Lai và An-tô-ni I-đơn tại Giơ-ne-vơ một ngày trước khi Bộ Ngoại giao Anh công bố quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ được nâng lên hàng đại sứ.

“Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã nói riêng với I-đơn là ông ta nghĩ rằng có thể ‘thuyết phục được Việt Minh rút khỏi Lào và Cam-pu-chia’. Qua đó, Trung Quốc đã đi một bước rất dài theo luận điểm của người Cam-pu-chia, người Lào, người Anh và người Pháp. Điều đó bao hàm việc thừa nhận rằng Việt Minh đúng là kẻ xâm lược ở hai nước đó, ngược lại với luận điểm lâu nay của Việt Minh – đó cũng là coi các vấn đề Lào và Cam-pu-chia không giống như vấn đề Việt Nam. Ngoài ra, Chu Ân Lai còn nói sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của các Chính Phủ Vương quốc Lào và Cam-pu-chia ngay khi nào ông ta được bảo đảm rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ được xây dựng ở hai nước này”.

Trung Quốc thực sự đã quyết định quay lưng lại các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Lào và Cam-pu-chia để cầu xin ân huệ của các Chính phủ Anh và Pháp. “Nó cho phép trang bị quân đội chính phủ hiện nay đang đấu tranh chống du kích Pa-thét Lào và Khơ-me I-xa-rắc, và trong tương lai có thể đẩy lùi mọi hoạt động mới của Việt Minh ở bên ngoài biên giới Việt Nam”…

Bài phát biểu ngắn của ông Đồng tại phiên họp bế mạc phản ánh sự cay đắng của ông khi phải chấp nhận những quyết định do sự áp đặt của người khác, bè bạn cũng như đối thủ. Các nhà báo không được dự phiên họp này (cũng như mọi phiên khác), nhưng Gioay-ô đã tóm tắt những gì đã xảy ra:

“Ông Phạm Văn Đồng chỉ có một câu cám ơn hai đồng Chủ tịch, chứ không nói một lời nào biết ơn đối với Trung Quốc. Liệu có thể giải thích sự im lặng này một cách nào khác hơn là dấu hiệu về sự bất bình của Việt Minh đối với đồng minh của họ, những người tuy là nguồn ủng hộ vững chắc trong quá trình thương lượng, nhưng vẫn không ngần ngại tìm cách hạn chế những yêu cầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mỗi khi lợi ích dân tộc của chính họ đòi hỏi?”.

Tối ngày 22 tháng 7, ông Phạm Văn Đồng và các thành viên khác của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự một cuộc chiêu đãi của Chu Ân Lai để “chúc mừng thắng lợi của Hội nghị”. Họ chờ đợi một cuộc “chúc mừng giữa những người đồng chí”. Họ rất ngạc nhiên khi thấy đoàn đại biểu Liên Xô đã không được mời, trong khi các đoàn đại biểu của “Hoàng đế” Bảo Đại, Vương quốc Lào và Cam-pu-chia lại có mặt. Chu Ân Lai trước hết nâng cốc chúc mừng Hoàng đế Bảo Đại rồi đến Vua lào và Vua Cam-pu-chia. Người phụ tá cao cấp của ông Phạm Văn Đồng (mà tôi đã trích dẫn trước đây) nói với tôi :

“Chúng tôi hầu như không thể tin ở mắt và tai mình nữa. Về sau, chúng tôi thấy vấn đề rõ hơn. Trung Quốc muốn các nước Đông Dương nằm trong túi mình, và hy vọng rằng ba Vương quốc ở đây sẽ được duy trì như những nước triều cống như kiểu Thiên hoàng trị vì đế quốc Trung Hoa với những quốc gia phiên thuộc! Trung Quốc không thể coi thường hơn nữa nội dung xã hội của các quốc gia ấy cũng như số phận của các lực lượng cách mạng ở đó – Nhìn lại những gì xảy ra sau này với Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia và việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam rõ ràng đã được khởi động bởi thái độ của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ và đặc biệt là cuộc chiêu đãi cuối cùng này”.

Chu Ân Lai đã bố trí để tại cuộc chiêu đãi các trưởng đoàn Cam-pu-chia và Lào, Tép Phan và Phủi Xa-na-ni-côn, ngồi cùng một bàn với vài phụ tá cao cấp của Chu Ân Lai. Tại bàn do Chu Ân Lai chủ trì, Ngô Đình Luyện (em Ngô Đình Diệm, người mới được CIA đưa lên cầm quyền ở Sài Gòn) được xếp ngồi giữa Phạm Văn Đồng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngô Đình Luyện và Tạ Quang Bửu đã từng cùng học tại Pháp và Chu Ân Lai tìm hết cách làm cho hai người gợi lại những kỷ niệm thời thanh niên. Có lúc, Chu gợi ý Ngô Đình Luyện sang thăm Bắc Kinh. Khi Luyện hỏi sang đó dưới danh nghĩa nào, Chu Ân Lai trả lời: “Tại sao các ngài không đặt một công sứ quán ở Bắc Kinh?”. Nhận thấy ông Phạm Văn Đồng giật nẩy người phản ứng, Chu Ân Lai lạnh lùng nói rằng việc ông Phạm Văn Đồng gần gũi với Trung Quốc hơn về tư tưởng không loại trừ việc Sài Gòn có đại diện ngoại giao tại Bắc Kinh. “Dù sao, hai ngài đều chẳng phải là người Việt Nam cả sao, và tất cả chúng ta đây chẳng phải là người Châu Á cả đó sao?”. Đây nữa lại là một viên thuốc đắng mà ông Phạm Văn Đồng phải nuốt tại Giơ-ne-vơ. Lý do khiến Chu Ân Lai ủng hộ việc đẩy lùi càng lâu càng tốt cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước đã trở nên quá rõ ràng. Trung Quốc quan tâm tới việc mở rộng ảnh hưởng của chính mình ở Sài Gòn hơn là giúp Việt Minh giành thắng lợi chính trị và tái thống nhất đất nước…

“Chúng tôi lẽ ra đã có thể giành được hơn nhiều, nhiều lắm. Chúng tôi đã thỏa thuận trước với người Trung Quốc về mọi vấn đề – nhưng Chu Ân Lai đã họp kín với Măng-đét Phrăng, và tất cả đều bị thay đổi. Nếu lúc đó chúng tôi cứ tiếp tục chiến tranh, thì có lẽ chúng tôi đã thắng và được tất cả. Phải nói rằng người Trung Quốc đóng một vai trò cực kỳ nguy hiểm trong suốt cuộc thương lượng, và đã phản bội chúng tôi một cách đê tiện nhất”.

Việc các nhà lãnh đạo Việt Nam giữ gìn điều bí mật về vai trò của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là một điều đáng khâm phục về tính thận trọng, ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa – nhưng cũng là một điều đáng tiếc là họ không thông báo rộng rãi trong một chừng mực nào đó những việc xảy ra sau hậu trường ở Hội nghị. Tôi đã từng theo dõi đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ, đã từng thường trú ở Hà Nội trong nhiều năm để đưa tin về việc thi hành các quyết định của Hội nghị, đã từng có vô số cuộc nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp và những người khác, nhưng tôi chẳng hề được một gợi ý xa xôi nào về những gì xảy ra sau hậu trường ở Giơ-ne-vơ, cho mãi đến khi Trung Quốc đã phạm điều phản bội tột cùng bằng cách xâm lược Việt Nam!…”(1)

4. Lại nữa: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?”.

Thưa tiến sĩ, Cô đọc được tiếng Việt và tiếng Pháp không? Thôi thì tôi nhắc lại tài liệu sau đây bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt cho Cô dễ hiểu:

Ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của hội nghị San Francisco, đại biểu Liên Xô Andrei A. Gromyko sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh – Mỹ để ký với Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống.

Hai ngày sau, ngày 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao như sau:

Và nói một cách thẳng thắn rằng phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm mống gây xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn từ xưa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam”.

(“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam”)

Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn, không có một phái đoàn nào phản đối.

5. “Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me.

Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn.

Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy”.

Xin thưa với Cô tiến sĩ Quan hệ quốc tế và Hoa Kỳ học:

Nếu dựa vào những lý lẽ “lịch sử” theo kiểu như vậy, tuy có phần hấp dẫn đối với cô nhưng rõ ràng sẽ mở ra một hộp Pandoras của những xung đột không thể nào giải quyết được.(2)

Một sách giáo khoa về luật pháp quốc tế của Michael Akehurst khái quát vấn đề chung đó như sau : “Đất đai chinh phục được ngày nay, hoặc ít ra đất đai do một kẻ xâm lược chinh phục, thì không thể được thừa nhận quyền sở hữu. Trong quá khứ thì được. Nhưng quyền sở hữu trước kia dựa vào sự chinh phục bây giờ có trở nên mất giá trị không? Nếu trở nên mất giá trị, thì kết quả sẽ rất là sửng sốt; nếu rút ra kết luận logic của việc đó, thì có nghĩa là bắt Mỹ sẽ trả lại cho người Idian da đỏ, và người Anh sẽ phải trả lại nước Anh cho người xứ Welsh”.(3)

Những ví dụ như vậy có thể nhân lên không bao giờ hết. Kết luận mà phần đông các nhà cầm quyền đạt được là những khái niệm về luật pháp quốc tế không thể áp dụng lui trở lại cho các cuộc xung đột trong quá khứ để làm mất giá trị pháp lý của những biên giới ngày nay được.

Những vấn đề đó đặc biệt gay gắt trong các thuộc địa cũ của các cường quốc thực dân Châu Âu. Akehurst nhận xét : “Những biên giới thuộc địa, được vạch ra bằng vũ lực trong các thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã trở thành những biên giới của những nước mới độc lập, mà không nước nào muốn thấy biên giới của họ bị đưa ra đặt vấn đề lại. Các nước Mỹ la tinh và Á-Phi, với một cái ngoại lệ (như Trung Quốc chẳng hạn) đã đồng ý rằng các biên giới thuộc địa phải được tiếp tục sử dụng, theo luật pháp quốc tế, như những biên giới sau độc lập. Ở Mỹ la tinh, điều đó được hiểu là nguyên tắc Utipossidetis, nghĩa là :Như bạn đã sở hữu, bạn sẽ tiếp tục sở hữu(4). Các biên giới thuộc địa, nhất là ở Châu Phi thường không theo thiên nhiên, không tính đến sự phân chia của bộ tộc và cắt qua các khu vực thuộc cùng một đơn vị kinh tế, nhưng vì các quốc gia mới được độc lập không thể đồng ý vạch lại một cách triệt để các biên giới nên khôn khéo hơn cả là duy trì các biên giới hiện có để tránh tình hình mất ổn định và xung đột.

Như vậy, lý luận như tiến sĩ thì nước Mỹ cũng là một phần của Trung Quốc như một vị tướng Trung Quốc từng tuyên bố gần đây.

6. Cuối cùng, “Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?”

Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…

Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?”

Một câu hỏi thật bất ngờ, tôi không tin rằng ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ lại có một giảng viên ngạo mạn và kém cỏi về lịch sử nước nhà đến thế.

Thưa tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích, đọc những quan điểm và cách đặt vấn đề về lịch sử của Cô, chúng tôi không thể không nghi ngờ về trình độ hiểu biết sơ đẳng cũng như tự hỏi rằng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích hẳn phải là một người Hoa xa xứ Trung Quốc?

Chào trân trọng

Các bạn vào trang anhbasam dưới đây để đọc các bình luận:

http://anhbasam.com/2010/04/18/549-th%c6%b0-ng%e1%bb%8f-g%e1%bb%adi-v%e1%bb%8b-ti%e1%ba%bfn-si-d%e1%ba%a1i-h%e1%bb%8dc-yale/#comments


Chú thích:

(1) Wilfred G. Burchett, China, Cambodia, Vietnam Triangle, Vanguard Books, 1982.

[ Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, NXB TTLL, HN, 1986].

(2)- Theo thần thoại Hy Lạp, Pandoras là người đàn bà do Thần lửa tạo ra và bị đưa xuống để trừng phạt trần gian đã lấy trộm lửa. Thần Zeus cho chị ta một cái hộp, khi mở ra thì đủ tất cả các thói hư tật xấu bay ra làm ô nhiễm cả thế giới. Hộp Pandora do đó có nghĩa là vật hào nhoáng nguy hiểm.

(3), (4)- Grant Evans – Kelvin Rowley. The Red Brotherhood at war (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tấn Cưu – Chân lý thuộc về ai?), NXBQĐND, 1986.

--> Read more..

Steps


Flag Counter