Hiển thị các bài đăng có nhãn hoahopdantoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoahopdantoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2010

Rất cần những bàn tay chìa ra

 

SẼ CẦN THÊM BAO NHIÊU THỜI GIAN?

Lê Thị Thanh Chung

Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian
Để Ba mươi tháng tư thôi là ngày "Quốc hận"?
Xa xứ gặp nhau - giọng Nam tiếng Bắc
Không còn vách ngăn.

Sẽ cần thêm bao nhiêu tháng năm
Để "Quốc giỗ" cho những người tử trận
Không phân biệt thắng - thua, được - mất
Súng đã im - vết sẹo vẫn chưa lành

Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian
Để gọi đích danh kẻ ngăn sông cấm biển
Thêm một lần nàng Mỵ Châu bị giết
Cuộc hôn nhân lẩn khuất bóng Triệu Đà

Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian
Để ta tự hào nói cùng bè bạn
Rồng đã bay lên.


Bài thơ này tôi viết từ tháng sáu năm ngoái. Nay vẫn thấy cần đưa lại trong entry này.

Tôi suýt khóc như trẻ bị đòn oan khi nhận thông báo không được tiếp tục đứng lớp dạy tiếng Việt cho các con em người Việt ở Chùa nữa. Lý do: Tôi đã dạy các trò bài hát "Tiếng chuông và ngọn cờ" của "nhạc sỹ cộng sản" Phạm Tuyên. Kiến nghị này chỉ của một nhóm giáo viên và một vài vị phụ huynh "quá khích" (tôi đã gọi họ như thế). Lúc ấy tôi giận họ ghê gớm. Họ đã tước đoạt mất niềm vui được thiện nguyện đóng góp cho cộng đồng của tôi. Giữa tôi và các trò đã bắt đầu nảy sinh tình cảm quý mến nhau. Có bé gái mồ côi mẹ, lần nào không làm được bài kiểm tra cũng khóc khiến cho hai cô giáo phải ôm vào lòng vỗ về, dỗ dành. Có bé học rất giỏi, luôn tìm ghép được những từ cả cô giáo và các bạn không ngờ tới. Có bé vẽ minh họa được cả những từ khó như "nhà sư", "mùa thu"... Tôi đã định cầu cứu đến sự ủng hộ của các tăng ni phật tử mà tôi đã quen trong gần hai tháng tham gia giảng dạy ở Chùa. Tôi đã định tìm gặp Sư Thầy để nói rõ nguồn cơn...

"Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian - Để ba mươi tháng tư thôi là ngày "Quốc hận"? Tôi đã từng tiếp xúc với nhiều Việt kiều ra đi trước, trong và sau biến cố 75. Khi vượt qua được thanh ngáng "30 tháng tư" để trò chuyện với nhau như những người Việt xa xứ, họ đã kể về những mất mát mà gia đình và người thân họ phải gánh chịu. Chiến tranh là thế. Hai nhà hàng xóm đánh nhau, sau một vài năm có thể chào hỏi lại một cách xã giao. Anh em ruột thịt đâm chém nhau, vết thương còn mãi trong lòng những người thân. Chị bạn tôi nói, những người phản đối tôi đều có nhiều người thân bỏ mạng trong cuộc chiến hoặc bị chết trong các trại cải tạo hoặc từng là nạn nhân của cướp biển, của sóng dữ trong nhưng ngày lênh đênh bỏ nước ra đi. "Tiếng Việt còn - nước Việt còn" - nhưng nước Việt trong họ là hoài niệm của miền Nam đã mất sau 75. Sẽ có người nói rằng, chắc gì bên nào đã mất mát nhiều hơn? Vâng! Nếu chúng ta đem những "bia mộ Trường Sơn trùng trùng lớp lớp", đem nỗi đau da cam, đem nỗi cô đơn của hàng triệu phụ nữ có chồng con "đi mãi không về"... đặt lên bàn cân... Nhà thơ Nguyễn Duy viết: "Nghĩ cho cùng mỗi cuộc chiến tranh - phe nào thắng thì nhân dân đều bại". Ba mươi lăm năm đủ để cho những đứa trẻ sinh ra sau chiến tranh trở thành người lớn. Nhưng tuổi thơ của lớp người này vẫn ám ảnh bởi những ký ức buồn đau, mất mát trong và sau cuộc chiến của cha anh họ. Như tôi vẫn hay thường kể cho các con nghe những cơn đói triền miên hồi thập kỷ tám mươi. Để hóa giải mọi sự hận thù, rất cần những bàn tay chìa ra. Nhưng cách chìa bàn tay của hai bên "thắng - thua" cũng khác. Và tôi thấy sự giận dữ của các vị phụ huynh ở Chùa không còn là điều quá khó hiểu. Họ cần nhiều thời gian hơn để mở lòng với những người thuộc "phe cộng sản".

Tôi nhớ có lần sinh viên du học và sinh viên gốc Việt ở hải ngoại cùng xuống đường biểu tình chống TQ chiếm đảo Hoàng Sa, thành lập Tam Sa, bắt giwux ngư dân VN. Thủ lĩnh hai bên đã thỏa thuận với nhau, chỉ mang theo biểu ngữ VIỆT NAM - tịnh không có bóng một lá cờ đỏ sao vàng hay cờ ba sọc. Khi đất nước gian nguy, tấm lòng con dân Việt lại quy về một mối. "Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian?" - Chắc không còn lâu nữa.

Nguồn: http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/228101

Bài liên quan:

> Nhân 35 năm Ngày 30/4, thế này mới là tình nghĩa dân tộc

http://www1.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/bui-tin-30-thang-4-2010-92439619.html

> Sự kiện 30-4

http://truongduynhat.vnweblogs.com/post/1545/228598

> Chiến tranh Việt Nam và ngày 30/4 dưới con mắt của TS Cù Huy Hà Vũ

http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnam-war-a-perspective-from-hanoi-4-29-10-92469969.html

> Tuyên bố của Bùi Tín

http://www1.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/bui-tin-30-thang-4-2010-92439619.html

> Ông Nguyễn Dy Niên: "Giá mà chúng ta khôn khéo hơn"

http://trangridiculous.blogspot.com/2010/04/ong-nguyen-dy-nien-gia-ma-chung-ta-khon.html

> 30/4 và Hòa giải dân tộc

http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/30thang4-hoa-giai-dan-toc-04-30-2010-92493984.html

--> Read more..

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2010

Hòa hợp dân tộc qua góc nhìn của ông Nguyễn Cao Kỳ

Hòa hợp dân tộc qua góc nhìn của ông Nguyễn Cao Kỳ

Thu Hà

Để tìm được sự đồng thuận trong những vấn đề nhạy cảm như hòa giải, hòa hợp dân tộc thường không mấy dễ dàng. Tuy nhiên, cứ đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu thì ta sẽ biết phải làm thế nào tốt nhất. Việt Nam bây giờ đã là một rồi. Đứng trước tương lai của đất nước, chúng ta phải sớm xóa bỏ hận thù và đoàn kết lại - ông Nguyễn Cao Kỳ.

>> Ba mươi lăm năm Hòa giải để Yêu thương

Chuyến trở về Việt Nam tháng 1/2003 sau 28 năm xa cách của ông Nguyễn Cao Kỳ, nhân vật số 2 "khét tiếng" một thời của chính quyền Sài Gòn được xem là một chỉ dấu tích cực của chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Kể từ đó, người ta thấy ông Nguyễn Cao Kỳ thường xuyên có mặt ở Việt Nam và lên tiếng ủng hộ cho hòa hợp dân tộc.

Cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn bày tỏ góc nhìn riêng của mình về sự nghiệp thống nhất lòng người của dân tộc Việt.

Đã 35 năm sau sự kiện 30 tháng Tư, những người ở lại và cả những người ra đi đã nói nhiều, làm nhiều việc cho mục tiêu hòa giải dân tộc, hàn gắn lòng người. Ông đánh giá thế nào những nỗ lực chúng ta đã làm?

Ông Nguyễn Cao Kỳ: Tôi nghe dư luận và có cảm tưởng vẫn còn có khoảng cách giữa nói và làm. Cuối năm vừa rồi, Hội nghị Việt Kiều đã thu hút mấy ngàn người về dự. Trả  lời phỏng vấn báo chí, nhiều vị đều bày tỏ mong muốn sớm hòa hợp. Điều đó có nghĩa mặc dù chính quyền đã cố gắng, nhưng ở đâu đó vẫn chưa thực sự tích cực.

Việc tích cực hàn gắn như ông vừa đề cập, cần được hiểu thế nào?

Phải từ hai phía, nhưng cái chính vẫn phải từ phía những người trong nước. Chúng ta có thực sự muốn làm và tích cực làm hay không ...

Nói về đoàn kết toàn dân tộc tôi có cảm giác dân tộc mình mỗi lần bị đe dọa đến vận mệnh thì lại đoàn kết. Thời xưa, chống giặc ngoại xâm phương Bắc thời nay đánh Tây, đánh Mỹ là tự khắc cả dân tộc đoàn kết và chiến thắng. Nhưng khi thắng rồi không hiểu làm sao mà tình cảm lại không được như trước.

Chẳng phải Nhà nước đã có rất nhiều những động thái tích cực đó sao? Quyết định dân sự hóa Nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ là một minh chứng rõ rệt cho thấy thiện chí của những người trong nước. Và còn có chính sách cho bà con Việt kiều về nước mua nhà hay chương trình gặp gỡ Việt kiều hàng năm...?

Tôi cho rằng đó là những động thái tích cực. Chẳng hạn như để có được quyết định dân sự hóa nghĩa trang cũng phải mất nhiều năm trời. Ngay khi trở về quê hương tôi cũng đã đề cập chuyện ứng xử với nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ với các vị lãnh đạo của Việt Nam...

Tôi còn nêu ý tưởng tổ chức đại lễ cầu siêu chung cho những người tử trận không phân biệt bên này hay bên kia, làm thật trang trọng mỗi năm và thông báo rộng rãi cho bà con đang sống trong cũng như ngoài nước biết. Nếu trong số những người về dự, có cả một số cựu chiến binh từng ở bên kia chiến tuyến thì không gì hay bằng.

Thử hỏi có người dân Việt Nam yêu nước nào muốn chia rẽ đất nước không? Có ai muốn rằng người Việt giữ mãi hận thù với nhau không?

Trong một cuộc gặp ông Võ Văn Kiệt, tôi đề nghị làm một tượng đài chung cho tất cả những người đã chết trong chiến tranh. Nơi đặt bức tượng này có thể là Quảng Trị chẳng hạn. Một khi chưa làm được điều này với  người đã chết,  tức là vẫn chưa vượt qua được rào cản khoảng cách.

Theo tôi chỉ khi nào vượt qua được suy nghĩ hẹp hòi thì chúng ta sẽ làm được. Khi ấy vị thế của Việt Nam được nâng lên tầm cao khác. Tự khắc lòng người xích lại với nhau và sẽ không còn phải mất nhiều thời gian bàn chuyện hàn gắn hay hòa giải nữa.

Ông suy nghĩ như thế nào về việc Nhà nước quyết định dân sự hóa nghĩa trang quân đội cũ?

Tôi đã ghé thăm nghĩa trang này trước đây còn hoang vắng nhưng giờ đây đã sạch sẽ quang đãng rồi, mọi người được ra vào tự do. Ở đó vẫn còn giữ được 16 ngàn ngôi mộ tử sĩ.

Lịch sử là lịch sử, ngày 30/4 giờ là một sự kiện lịch sử. Việc ứng xử không còn hận thù với những người từng đứng phía bên kia chiến tuyến như thế nào được bên ngoài quan sát để đánh giá cách hành xử văn minh hay không. Cho dù bên này hay bên kia, chết là hết, còn hận thù chi nữa, họ cần được coi sóc chu đáo.

Ông có thừa nhận một thực tế là chúng ta có thể xóa bỏ hận thù để bắt tay làm bạn với những nước đã từng xâm chiếm chúng ta, vậy mà việc hàn gắn người Việt với người Việt với nhau xem ra lại mất nhiều thời gian hơn thế?

Theo tôi, cả hai phía vẫn có thiểu số còn quá nặng về dĩ vãng, chưa có tầm nhìn về tương lai. Một người không biết nhìn về tương lai, thì họ chỉ còn sống và ôm dĩ vãng. Mà như vậy thì tư duy của họ vẫn mãi bị ám ảnh bởi những chuyện hận thù, chủ nghĩa hay phe phái. Chúng ta phải thực tế nhìn vào điều này: muốn hòa hợp thì rất không nên nói nhiều mà phải làm.

Liệu có cách gì để chúng ta không còn phải mất thêm thời gian cho việc hòa hợp, hòa giải với đa số những người Việt ở bên ngoài đất nước?

Chuyện quốc gia cũng giống như trong một gia đình. Những việc chung thì cần đánh tiếng để mọi người xúm tay vào làm. Tôi nghĩ đối với đa số người Việt ở bên ngoài thì sẵn lòng góp sức cùng trong nước. Với đất nước có gì phải ngại ngần. Vấn đề là họ cần được thông tin đầy đủ về tình hình và những nhu cầu thực sự mà nhà nước đang cần sự góp sức của họ.

Hòa hợp dân tộc sẽ tập hợp được sức mạnh. Cứ đặt lợi ích dân tộc lên trên thì chúng ta tự khắc biết phải ứng xử thế nào cho hợp lẽ.

Nhưng khi đã kêu gọi thì cũng phải tạo điều kiện thoải mái cho người ta về. Lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau.

Theo ông, 35 năm có quá dài cho việc hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người?

Để tìm được sự đồng thuận trong những vấn đề nhạy cảm như vậy thường không mấy dễ dàng. Tuy nhiên cứ đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu thì ta sẽ biết phải làm thế nào tốt nhất. Việt Nam bây giờ đã là một rồi. Đứng trước tương lai của đất nước, chúng ta phải sớm xóa bỏ hận thù và đoàn kết lại. Cuộc chiến tranh khốc liệt đã khiến cả triệu người ở cả hai bên chiến tuyến hy sinh, thì đó là một chuỗi oán thù chồng chất, không phải chỉ ở một phía. Chỉ có hòa hợp dân tộc mới giải quyết được vấn đề.

Nếu ai đó còn có ngần ngại, còn có bất đồng, chúng ta hãy nói với các bạn ấy rằng mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng dang rộng cánh tay đón nhận tất cả những người con của mình về với Tổ quốc. Không có lý do gì, sự bất đồng gì ngăn cản sự đoàn kết, thống nhất quốc gia trong sự nghiệp phát triển, xây dựng đất nước của chúng ta.

Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hoà. Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung, vì mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh".

Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường.

Đó không chỉ là lời nói và ý kiến của tôi mà là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam, là ý chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam

(Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết phát biểu trong cuộc gặp mặt bà con Kiều bào tại quận Cam, Los Angeles, Mỹ tháng 6/2007)

 
Nguồn:http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.net/Hoa-hop-dan-toc-qua-goc-nhin-cua-ong-Nguyen-Cao-Ky/4184875.epi
--> Read more..

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai

Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai

“Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình” – nhà ngoại giao kỳ cựu Võ Văn Sung nói.

Nhân dịp 35 năm sự kiện ngày 30/4/1975, Tuần Việt Nam vừa có cuộc trò chuyện với cựu đại sứ Võ Văn Sung - người còn lại duy nhất trong 5 thành viên chính thức đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết Hiệp định Paris lịch sử ngày 27/1/1973. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

>> Ba mươi lăm năm Hòa giải để Yêu thương

Cuộc chiến càng kéo dài thì hòa giải càng lâu và khó khăn

- Vậy là tròn 35 năm ngày đất nước thống nhất, non sông nối liền một dải. Không thể phủ nhận ý nghĩa vĩ đại của ngày 30/4/1975. Song sự nghiệp đặt ra sau khi thống nhất giang san là thống nhất lòng người dường như vẫn chưa hòan thành trọn vẹn. Bằng chứng là chúng ta vẫn phải nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc. Phải chăng 35 năm là một thời gian quá dài cho hòa giải và hòa hợp dân tộc?

Cựu đại sứ Võ Văn Sung: Chào VietNamNet và các độc giả của Tuần Việt Nam.

Trước hết tôi muốn nói rằng tôi đồng tình với ý tưởng VietNamNet thảo luận về hòa giải để yêu thương. Đó là điều phù hợp với suy nghĩ và tấm lòng của con người, xét từ bản chất của mỗi chúng ta.

Mặt khác, khi bàn về vấn đề "hòa giải dân tộc" ở nước ta sau chiến tranh chúng ta nên nhìn nhận và tiếp cận vấn đề không chỉ trên mặt tình cảm, mà cần thấy hiện thực cuộc sống nói chung và thực tế ở nước ta nói riêng. Như vậy là phải vừa có tình, vừa có lý.

Cái đích đấu tranh của dân tộc Việt Nam liên tục 30 năm kể từ  năm 1945 đến 1975 chính là vì "Con người và Hạnh phúc con người". Để đạt tới mục tiêu đó trước hết có hai chặng phải vượt qua là giành Độc lập-Thống nhất cho đất nước và Tự do cho nhân dân. Sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta đích thực là sự nghiệp của "yêu thương con người" ở cả hai mặt đồng bào và đồng loại.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy cuộc chiến càng dài và càng ác liệt thì quá trình hòa giải sau chiến tranh càng lâu và khó khăn hơn. Những gì đã và đang xảy ra 35 năm qua ở Việt Nam chắc cũng không ngoài qui luật đó. Khi đặt vấn đề "hàn gắn lòng người" thì chúng ta thấy rằng những "vết thương lòng" không phải chỉ người Việt mới có, mà những công dân Mỹ và các quốc gia đối địch cũ như Pháp và Nhật cũng phải gánh chịu "hội chứng Việt Nam". Cho nên nhu cầu "hòa giải dân tộc" cũng cần đặt trong bối cảnh chung của quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với các nước từng đối đầu trước đây. Tiến trình này nhanh hay chậm không chỉ phụ thuộc vào ước nguyện của một phía mà phải do hội đủ tác động đa chiều của quan hệ chính trị thế giới hơn 30 năm qua.

Riêng đối với người Việt Nam, có thể nhận thấy vấn đề "hòa giải dân tộc" tác động và ảnh hưởng khác nhau đối với từng thế hệ trong giai đoạn lịch sử vừa qua.

- Tâm trạng của những người thế hệ đi trước trực tiếp chứng kiến thời kỳ chiến tranh có phần tùy thuộc vị trí đã qua của từng người và gia đình họ, nhưng nhìn chung đối với thế hệ này dấu ấn để lại là rất sâu đậm và tùy theo việc làm của họ mà sự "day dứt" ở mỗi người có nội dung ra sao. Cho đến nay thì ở ngay lớp thế hệ đi trước này hầu hết cũng đều mong "hòa giải dân tộc, hàn gắn lòng người".

- Đối với thế hệ hiện nay vào khoảng 40 tuổi thì có thể họ không có tâm trạng quá "nặng nề" như lớp người lớn tuổi nói trên.

- Với thế hệ sinh ra cùng với thời kỳ hơn 20 năm "Đổi mới" ở Việt Nam, có thể cảm nhận rằng nhiều người trẻ tuổi này không thể không thấy tự hào về thành quả của Tổ quốc, của dân tộc. Đương nhiên cũng như mọi người Việt Nam, họ cũng có ý kiến này, ý kiến khác, có khen ngợi, có phê bình về công việc chung của đất nước, chủ yếu với mong muốn cái tốt đẹp hơn nữa cho dân tộc, nhưng đó không phải là chủ đề hôm nay chúng ta đang đề cập về "hòa giải và hàn gắn".

Cả hai phía đều có trách nhiệm chìa tay

- Khi nói về ngày 30/4, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói một câu cách đây 5 năm: "Đó là ngày có hàng triệu người vui và có hàng triệu người buồn". Là nhân chứng thời cuộc, ông chia sẻ thế nào với suy nghĩ này của ông Võ Văn Kiệt?

Như ông Võ Văn Kiệt đã nói thì thực tế đúng là như vậy và riêng tôi, tôi cũng nhận thấy như vậy. Bởi lẽ, hầu như tất cả các gia đình Việt Nam đều chịu mất mát tang thương do chiến tranh, nhất là ở miền Nam, phần lớn đều có tình trạng những thành viên trong cùng một gia đình từng tham gia cuộc chiến từ hai phía. Niềm vui ngày hoàn thành sự nghiệp độc lập-thống nhất cũng gợi nhắc lại nỗi đau chia rẽ và mất mát của một dân tộc bị chiến tranh xâm lược tàn phá suốt 30 năm ròng.

Nói về câu chuyện hoà giải, có người đã gợi ý rằng, điều này phải làm từ hai phía, quan trọng hơn cả là phía những người trong nước phải chủ động "chìa tay" ra. Theo ông, "chủ động chìa tay" ra nên hiểu thế nào đây?

Theo tôi, nếu chữ "hai phía" với ý là người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước có thể là chưa hoàn toàn đúng với thực tế. Vì cả trong nước và ngoài nước đều có "hai phía", cho nên ở đâu nếu gọi là thuộc "hai phía" thì đều có trách nhiệm "chìa tay".

Nhưng đây ý tôi nặng về thế hệ thứ nhất trực tiếp chứng kiến cuộc chiến tranh mà tôi đã đề cập. Còn đối với thế hệ thứ 2 và thế hệ thứ 3 thì tôi thực tâm nghĩ rằng họ đã "tay trong tay, lòng chung lòng" vì Tổ quốc và dân tộc từ lâu rồi.

Trong 20 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy hòa hợp dân tộc, tạo điều kiện cho bà con người Việt ở nước ngoài trở về thăm hoặc định cư và góp phần xây dựng lại quê hương. Đó chính là tinh thần "chủ động chìa tay" của Tổ quốc.

Tuy nhiên trong thực thi cụ thể thì còn gặp khó khăn về thủ tục hành chính và trở ngại do tâm lý "mặc cảm" và "định kiến" của những người vốn chưa thông chính sách, thể hiện qua thái độ không tích cực đáp ứng những chủ trương của Nhà nước. Điều này xảy ra trong cả bộ máy hành chính và cả trong số những người từng thuộc về "hai phía".

Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.

Vì vậy theo tôi chỉ còn có cách là mỗi con dân Việt nam hãy cố gắng vượt qua "rào cản tâm lý", để sớm được "tay trong tay, lòng chung lòng" cùng đại gia đình Việt Nam.

Nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung từng tham gia cuộc đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1971 đến 1974 và là người còn lại duy nhất trong 5 thành viên chính thức đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết bản Hiệp định Paris lịch sử ngày 27/1/1973.

Ông là đại sứ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Pháp kiêm đại diện của Chính phủ Việt Nam tiếp xúc với Hoa kỳ từ sau Hiệp định Paris cho đến năm 1979, đồng thời là bí thư Ban Cán sự Đảng Lao động Việt Nam tại Pháp, chỉ đạo phong trào Việt kiều ở Pháp và nhiều nước phương Tây.

Cuốn sách của ông mà VietNamNet từng có dịp giới thiệu với tựa đề "Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris" do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân  ấn hành năm 2005 là một tập sử liệu hiếm có nhằm tri ân những người con dân Việt Nam ở Pháp và các nước phương Tây trong những ngày này 35 năm trước đã hướng về Tổ quốc góp phần đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất nước nhà.

Trên thế giới, lịch sử của nhiều quốc gia cũng cho thấy họ đã từng trăn trở để hoà giải dân tộc, thống nhất lòng người. Ví dụ câu chuyện của Hoa Kỳ hồi chiến tranh Nam - Bắc, để cuối cùng họ có một nghĩa trang chung. Là người đi nhiều, biết nhiều, ông có ý kiến như thế nào về câu chuyện hòa giải của nhiều dân tộc trên thế giới?

Theo hiểu biết của tôi thì trên thế giới không có nhiều trường hợp giống như ở Việt Nam.

Câu chuyện ở Hoa Kỳ có hai việc: nội chiến Nam-Bắc và da màu. Đối với nội chiến Nam-Bắc đến nay có thể nói là xong, trở thành chuyện lịch sử. Tuy nhiên ngay cả trong nội chiến Nam-Bắc cũng có vấn đề da màu. Vấn đề phân biệt màu da qua 200 năm đã có nhiều thời kỳ lên, xuống, đến nay có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn tùy khu vực. Việc một người Mỹ da màu đầu tiên trở thành Tổng thống như vừa qua là một bước có ý nghĩa lớn, nhưng theo tôi, từ đây cho đến lúc hoàn toàn "hòa hợp" còn dài. Ngoài ra không nên quên Hoa Kỳ cũng có thời kỳ chiến tranh giành độc lập vì trước đây là thuộc địa của Anh và thời đó họ đã cùng đoàn kết giành độc lập cũng như ở các nước khác.

Thật ra, những sự kiện xảy ra ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua là rất đặc thù. Vì thế chúng ta có thể xem xét học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhưng cũng không thể hoàn toàn hòa đồng vấn đề của ta với những trường hợp khác xảy ra trên thế giới. Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không phải là một cuộc nội chiến như đã từng xảy ra ở Mỹ, dù rằng có lúc đã có hàng triệu người Việt Nam đối đầu nhau từ hai phía.

Dân tộc Việt Nam đã kháng chiến trường kỳ chống các thế lực xâm lược liên tục 30 năm dưới ngọn cờ duy nhất của Hồ Chí Minh, trong đó giai đoạn cuối cùng từ sau khi ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 đến ngày 30/4/1975 chỉ là hồi kết của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngay cả trong giai đoạn này chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng chưa bao giờ thoát ra ngoài vòng bảo trợ của Mỹ.

Nhìn nhận đúng mức về ông Dương Văn Minh

Quay trở lại câu chuyện của Việt Nam, thưa ông khi nói về ngày 30/4, nhiều người có ý tiếc bởi hồi đó, ông Dương Văn Minh có ý bàn giao chế độ nhưng các chiến sĩ của ta đã yêu cầu ông ấy phải đầu hàng vô điều kiện. Cũng trong bài trả lời phỏng vấn nhân 30 năm ngày thống nhất đất nước, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt có ý muốn đánh giá lại vai trò của ông Dương Văn Minh. Theo ông, nên nhìn nhận như thế nào về cho đúng về vấn đề này?

Ở đây có hai ý: vai trò của ông Dương Văn Minh và việc buộc nội các Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

- Liên quan đến ý thứ nhất: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành công không phải chỉ dựa trên sức mạnh quân sự thuần túy, mà là được định đoạt bởi sức mạnh tổng hợp đấu tranh chính trị-quân sự-ngoại giao của toàn dân tộc Việt nam. Ở miền Nam tư tưởng đó phần nào được phản ánh trong thế trận "3 mũi giáp công". Tôi là một trong số những người trực tiếp tham gia quá trình nghiên cứu và thực hiện "vừa đánh, vừa đàm" trong cuộc đàm phán "bí mật" giữa ta và Mỹ tại Paris. Trong đó nội dung giải pháp có nhiều phương án, cả về quân sự và chính trị.

Trong các loại phương án giải pháp chính trị, tôi biết rằng ta có liên lạc riêng với ông Dương Văn Minh trao đổi về vai trò ông có thể giữ theo từng loại phương án với thu xếp của ta và thông qua người phía ta cài vào nội các của ông. Những động thái trên thực tế đã hạn chế ý chí kháng cự của quân đội Sài Gòn và làm tê liệt hệ thống hành chính của chế độ cũ trước thời khắc quan trọng ngày 30/4 đã thể hiện phần nào hiệu quả của một cuộc đấu tranh tổng lực bằng vận động giải pháp chính trị, nổi dậy tại chỗ phối hợp chặt chẽ với 5 mũi tiến công của các quân đoàn chủ lực quân giải phóng.

Chúng ta biết rằng vào thời điểm cuối tháng 4/1975 nếu Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ còn nắm quyền và thực hiện "tử thủ" như ở Xuân Lộc thì chắc chắn ta không có một Sài Gòn giải phóng còn nguyên vẹn và chắc chắn phải hy sinh nhiều sinh mạng hơn.

Tôi từng được nghe kể lại việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không bằng lòng gọi một trận chiến tiêu diệt nhiều sinh mạng đối phương là một trận đánh đẹp, bởi Người cảm thông sâu sắc nỗi đau của những gia đình bị mất con em dù ở phía nào đi nữa.  Người từng huấn thị trong kháng chiến là: "Đánh mà thắng là giỏi, đánh thắng mà tổn thất ít càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là giỏi hơn cả". Như vậy Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng với tổn thất được hạn chế tối thiểu quả là một kỳ tích oanh liệt trong lịch sử quân sự.

Trên tinh thần đó, theo tôi ông Dương Văn Minh có mặt mà ta cần nhìn nhận đúng mức. Ngoài ra tôi biết rằng gia đình ông Dương Văn Minh có những người thuộc hàng ngũ ta như em trai ông lúc bấy giờ là sĩ quan cấp trung tá Quân đội nhân dân Việt nam, hoặc như con trai ông là Dương Minh Đức là cốt cán của ta trong nhóm Việt ngữ, nòng cốt của phong trào Việt kiều tại Pháp trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Nay anh Dương Minh Đức đã qua đời nên tôi muốn nói rõ rằng Đức là cầu nối kín đáo giữa ta với ông Dương Văn Minh. Tôi chắc rằng những người thân đã có ảnh hưởng và tác động nhiều đến suy nghĩ và hành động của ông Minh. Tôi luôn tin rằng phần đông người Việt Nam mình đều có lòng yêu nước thương nòi, thường bộc lộ rõ nhất vào những thời điểm trọng đại của dân tộc.

- Về ý thứ hai: Đơn vị quân giải phóng tiến vào Sài gòn đầu tiên đã buộc ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Về sự kiện này tôi nghĩ rằng anh em vào dinh Độc lập chắc là họ không thể làm khác trong không khí hừng hực tiến công lúc bấy giờ và làm sao anh em biết thực sự về việc ông Dương Văn Minh quan hệ với ta như tôi vừa kể trên. Vì vậy sau 35 năm nhìn lại sự kiện lịch sử, rất khó nói rằng có thể có cách gì khác hơn xảy ra vào thời điểm đó.

Đại lộ Đông Tây (Sài Gòn). Ảnh: Trọng Khiêm

Bao dung, độ lượng sẽ làm tan đi băng giá quá khứ

Từ góc nhìn của một nhà ngoại giao đã nhiều năm gắn bó với công tác Việt kiều, theo ông, chúng ta có thể làm gì hơn để không còn phải nói, phải bàn về vấn đề hòa giải dân tộc, để ngày 30/4 sẽ là ngày vui của toàn dân tộc Việt Nam?

Tôi thấy rằng ngày 30/4 từ 35 năm nay đã là ngày lịch sử của dân tộc. Vì đó là ngày khao khát chờ đợi của bao thế hệ người Việt Nam, là ngày đánh dấu sự kiện một nước "nhược tiểu" đã bền bỉ "lấy sức ta tự giải phóng cho ta", thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, một kỳ tích có một không hai trong lịch sử thế giới với sự lãnh đạo của một con người đầy đức độ là Hồ Chí Minh.Tôi nghĩ khó có gì có thể làm lu mờ ý nghĩa lịch sử vĩ đại này.

Với ngày 30/4 chúng ta đã qua được chặng đường đầu tiên "Nước ta hoàn toàn độc lập" để tiếp tục thực hiện "Dân ta được hoàn toàn tự do" và tiến tới "Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành", tức là thực hiện phương châm trước sau như một của nước Việt Nam kể từ ngày quốc khánh 2/9/1945 là "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc".

Trong 35 năm qua, xét về quan hệ quốc tế chúng ta được chứng kiến một nước Việt Nam đã "hòa giải" tốt đẹp với các đối thủ cũ là Nhật và Pháp và hôm nay quan hệ với Hoa Kỳ cũng đang ngày càng thân thiện. Cả ba nước đã và đang trở thành đối tác chiến lược và đối tác hàng đầu của Việt Nam. Đó là thiện chí của tất cả các phía, nhưng cũng là minh chứng cho truyền thống hòa hiếu cao thượng của dân tộc Việt Nam.

Trong hoàn cảnh chung như vậy, những người Việt Nam ở các nước đó đang giữ mối liên hệ rất gắn bó với bà con mình trong nước và họ đang đầu tư bằng nhiều cách về cho gia đình và cho đất nước. Các cựu chiến binh, vốn là những người trực tiếp đối đầu quyết liệt trước đây từ hai phía, nay trở thành lực lượng tích cực giao lưu, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để hòa giải và hàn gắn vết thương. Đối với tâm lý của nhiều người trong thế hệ trước, điều này không dễ dàng chút nào, nhưng tấm lòng bao dung, độ lượng sẽ làm tan đi băng giá của quá khứ.

Những lời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã phát biểu với bà con Việt kiều khi sang thăm Hoa Kỳ và nhân dịp Tết Nguyên đán vừa qua chứng tỏ Chính phủ đang cố gắng cải thiện tốt hơn môi trường trong nước để "mở rộng vòng tay" đón nhận tất cả những người con Việt Nam về với đất nước.

Từ trải nghiệm của tôi trong nửa thế kỷ gắn bó với Việt kiều, tôi tin chắc rằng sâu thẳm trong mỗi con người, hầu hết chúng ta đều có  tấm lòng với đất nước, mong cho quê hương được hòa bình và gia đình được hạnh phúc. Đấy chính là mẫu số chung của những người con dân Việt Nam và cùng với tấm lòng bao dung, độ lượng, đó sẽ là cơ sở vững chắc cho "hòa giải dân tộc" và "hàn gắn lòng người".

Vì vậy, chúng ta có thể tin vào một tương lai tốt đẹp không chỉ của riêng đồng bào mình, mà là tương lai của dân tộc ta hòa cùng với các quốc gia khác trên thế giới đang xích lại gần, hội nhập, gắn bó với nhau.

Con đường đi lên hạnh phúc của dân tộc Việt Nam còn lâu dài, khó khăn, nhưng nếu kiên trì "Đổi mới" chắc là chúng ta sẽ thành công.

 
Nguồn:http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.net/Nuoi-thu-han-can-tro-hoa-hop-la-co-toi-voi-tuong-lai/4179688.epi
--> Read more..

Steps


Flag Counter