Thứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 2014

Giấc mơ nguy hiểm phục hồi "Đế chế Trung Hoa"


Опасная мечта о возрождении "Китайской империи"


Tomohide Murai

Kichbu theo: inosmi.ru

Điều gì đang xảy ra trong vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam (Biển Đông-Việt Nam - Kichbu)? Điều gì ẩn chứa sau những hành động hung hãn của Trung Quốc? Chúng ta cố gắng tìm hiểu những ngọn nguồn  gây ra việc thực hiện chính sách  vũ lực từ phía Peking.

Sách giáo khoa viết về "những vùng lãnh thổ đã bị đánh mất"

Từ khóa để hiểu chính trị ở Trung Quốc có thể là slogan đã được đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố: "Sự hồi sinh vĩ đại của nhân dân Trung Quốc". Trung Quốc đang cố gắng lấy lại hào quang vĩ đại một thời quá khứ của mình. Quá khứ vĩ đại  của Trung Quốc ý rằng trước thế kỷ XIX , khi Trung Quốc kiểm soát toàn bộ khu vực Đông Á siêu cường  thế giới. Theo ý kiến của đảng CS Trung Quốc, từ thế kỷ XIX các đế quốc bắt đầu tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược chống Trung Quốc chia cắt vùng lãnh thổ to lớn của đất nước thành từng mảnh nhỏ. "Giấc mơ Trung Quốc" mà nhà lãnh đạo của Trung Quốc Tập Cận Bình thường xuyên nói đến, ngụ ý chính là việc trở lại Trung Hoa vĩ đại.

Trong sách giáo khoa lịch sử Trung Quốc cho các lớp trung học xuất bản năm 1952 đưa ra bản đồ, mà trên đó đánh dấu các vùng lãnh thổ bị các đế quốc tước đoạt. Một phần của Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan (trở thành lãnh thổ của Nga vào năm 1864), vùng núi cao Pamira (được phân chia giữa Anh và Nga vào năm 1896), Nepal (trở thành lãnh thổ của Anh vào năm 1898), Sikkim (trở thành lãnh thổ của Anh vào năm 1889), Bhutan (trở thành lãnh thổ của Anh vào năm 1965), Assam (trở thành  lãnh thổ của Anh vào năm 1826), Miến Điện (trở thành lãnh thổ của Anh vào năm 1886), Thái Lan (có được độc lập dưới sự bảo hộ của chung của Anh và Pháp vào năm 1904), Việt Nam, Lào, Campuchia (trở thành lãnh thổ Pháp vào năm 1885), Melaka (trở thành lãnh thổ của Anh vào năm 1875), Đài Loan (trở thành lãnh thổ của Nhật Bản vào năm 1895), quần đảo Ryukyu (trở thành lãnh thổ của Nhật Bản vào năm 1879), Hàn Quốc (trở thành lãnh thổ của Nhật Bản vào năm 1910), khu Khabarovsk của LB Nga (lãnh thổ Nga bắt đầu vào năm 1858), khu Primorsky (lãnh thổ Nga bắt đầu vào năm 1860), Sakhalin (chia giữa Nga và Nhật Bản vào năm 1905), vân vân...
Nhưng trên bản đồ  thời triều đại nhà Minh, Nhật Bản, các đảo Ryukyu (Okinawa) được đánh dấu như các vùng lãnh thổ của quốc gia láng giềng.
Quần đảo Spratly (Trường Sa - Kichbu) không được đánh dấu trên các bản đồ của triều đại nhà Tsiny Minh. Trên các bản đồ thời đó của nước cộng hòa (bản đồ Cộng hòa Dân quốc năm 1934) cũng không có quần đảo Spratly. Các vùng lãnh hải của biển Hoa Nam giữa  Philippines và Malaysia với toàn bộ quần đảo được đưa vào sở hữu của Trung Quốc chỉ sau khi thành lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như đã được đánh dấu trong sách giáo khoa lịch  sử, như đã đề cập ở trên.

 
Nước đầu tiên thực sự quản lý lãnh thổ quần đảo Spratly là Nhật Bản. Nhật Bản bắt đầu khai phá quần đảo này vào năm 1917, vào tháng 3 năm 1939, quần đảo đã được chuyển giao quyền sở hữu của thống đốc Đài Loan   được xem dưới quyền quản lý của Tokyo. Khi Nhật Bản bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, đã bỏ lại quần đảo Spratly, tất cả các nước ven biển Hoa Nam đã bắt đầu tuyên bố chủ quyền của mình đối với những lãnh thổ này.
Thiếu cơ sở pháp lý
Không có thoả thuận quốc tế nào, theo đó Trung Quốc có quyền đối với quần đảo Spratly. Khẳng định, dựa trên các bản thảo cổ hai nghìn năm trước đây, theo đó Trung Quốc đã sở hữu biển Hoa Nam kể từ thời nhà Hán, không được xác nhận bởi bất kỳ các nghiên cứu được thực hiện  tại Hoa Kỳ, Anh và Đức trong thế kỷ XIX, cũng như điều luật quốc tế «occupatio» (quyền đối với vùng lãnh thổ vô chủ thuộc về đất nước đầu tiên chiếm giữ nó).

Để "occupatio" có hiệu lực cần thiết phải là đất nước đánh đấu rõ ràng ý định của mình và thực tế chiếm giữ lãnh thổ trong thời gian dài. Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải 12 hải lý vào năm 1958 và Luật về Lãnh hải vào năm 1992 không có gì hơn ngoài việc tuyên bố đơn phương.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt tay thực hiện "giấc mơ Trung Quốc" của họ, một giấc mơ không có cơ sở pháp lý trong luật pháp quốc tế, dựa trên sức mạnh tăng lên của họ. Đồng thờ, Trung Quốc cũng không cố lấy lại tất cả "những vùng lãnh thổ đã mất". Trong hoạt động quân sự , Trung Quốc nguyên tắc riêng của họ. Tính toán đến những lợi ích và chi phí cho hoạt động quân sự, Trung Quốc hành động chỉ trong trường hợp nếu doanh thu vượt quá chi phí. Trung Quốc cho rằng những thay đổi biên giới trên các vùng lãnh hải không dân cư là không phải để mắt đến và ít phải chi phí so với những thay đổi biên giới trên đất liền.
Ngày 14 tháng Ba năm 1988, trong cuộc tranh cấp vì quần đảo Spratly đã xảy ra đụng độ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam. Kết quả,  hai tàu vận tải của  hải quân Việt Nam đã bị đánh chìm, một tàu bị hư hại. Số lượng thiệt mạng của cả hai bên ước tính hơn trăm người. Trung Quốc cho rằng vào thời điểm đó khả năng can thiệp của quân đội Mỹ đã bị tổn hại vì hội  chứng hậu chiến Việt Nam là rất thấp, hải quân Việt Nam  thua xa hải quân Trung Quốc, bởi vậy nguy cơ tổn thất, thậm chí trong trường hợp Việt Nam sử dụng vũ  lực là rất nhỏ.

Tránh xung đột với quân đội Mỹ

Mặt khác, nguy cơ lớn nhất khi chiếm rạn san hô Mischif chính là sự can thiệp từ phía Hoa Kỳ. Trung Quốc, vì sợ chuyển đến kịch bản này, đã khăng khăng đòi giải quyết các vấn đề thông qua thương lượng trì hoãn vô thời hạn các vấn đề , bằng cách đó, tránh nguy cơ đụng độ với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vào tháng Chín năm 1991, thượng viện của quốc hội Philippines từ chối phê chuẩn thỏa thuận về các căn cứ quân sự Mỹ-Philippines, vào tháng Mười một năm 1992, quân đội Mỹ cuối cùng đã rút khỏi lãnh thổ của Philippines. Trong những điều kiện này, Trung Quốc đánh giá khả năng can thiệp của Mỹ là thấp đã tấn công vào năm 1995 chiếm Mischif bằng vũ lực.

Từ những hành động của Trung Quốc trong chiến tranh với Việt Nam, có thể kết luận rằng Trung Quốc ra quyết định tấn công sau khi các điều kiện cần thiết được hình thành: xác suất thấp của sự can thiệp của Mỹ và đảm bảo chi phí thấp ngay cả trong trường hợp đụng độ với quân đội Việt Nam. Trong lịch sử với rạn san hô Mischif, các điều kiện là khác nhau. Mặc dù sự yếu kém của quân đội Philippines, nguy cơ can thiệp của Mỹ rất cao. Bởi vây Trung Quốc đã không sử dụng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, sau khi Mỹ rút quân khả năng đụng độ với Hoa Kỳ đã giảm, vì thế Trung Quốc đã lựa chọn phương án vũ lực.
Trung Quốc không tiến hành những hành động quân sự, nếu  xung đột với Hoa Kỳ. Vì vậy, trong khi Trung Quốc mộng tưởng với "giấc mơ Trung Quốc", nhiệm vụ chính đối với các nước xung quanh hiện chiếm hữu "những vùng lãnh thổ đã mất" là duy trì mối quan hệ với Hoa Kỳ trong các vấn đề an ninh.

*Tác giả - giáo sư Học viện quân sự quốc gia Nhật Bản.

Bản dịch chưa được biên tập. Các bạn đọc tham khảo. Kichbu.

-----

1 nhận xét:

  1. bài gốc tiếng Nhật http://sankei.jp.msn.com/world/news/140620/chn14062003140001-n1.htm

    Trả lờiXóa

Steps


Flag Counter